cobay.gif LogoSTDM.gif images/cobay.gif

Welcome to Living in America Radio talk Show. Thân Chào Quí Vị Đến Với Trang Nhà Đài Phát Thanh Sống Trên Đất Mỹ    
Home
Chương Trình Phát Thanh
Hồi Ký
Tham Khảo
Binh Luận Tham Luận
Giờ KCB
Chuyện Muôn Đời Không Quên
Nhạc Que Hương-Hung Ca-Tinh Ca
Photos
Phỏng Vấn Đặc Biệt
Hải Quân Việt Nam
Quảng Cáo Sản Phẩm
Hình Đẹp Cho Deskop

VietUnicodeFAQ Download Macromedia Flash Player






Chuyện một loài chim biển

    Lê Bá Thông

    ****************************************

    Khi mặt trời vừa nhô lên trên rặng cây phượng đỏ chói, mọc cạnh sân trường tiểu học, nằm tren bờ sông Tây Thượng, người cựu chiến binh Hải Quân cụt một chân trái, đa tập tễnh mang xấp truyền đơn của hội cựu Thương phế binh, len đường đi về khu chợ mới, nằm tuốt dưới cầu Bao Vinh. Du đoạn đường khá xa nhưng đối với anh, đâu có nhằm nhò gì so với những con đường đồi khấp khỉu thẳng tắp, trong khu vực nằm kế cận trại giam cải tạo, ma anh đa đi len xuống nhiều năm, tren chiếc nạng gỗ. Sáng nay la ngay nhóm chợ đầu tháng, nen chợ chắc chắn la sẽ đông đúc hơn thường lệ. Chú Mang nói như vậy khi chú ấy đến gặp anh tối hôm qua:

    " Nhờ niên trưởng ngày mai đi phân phát hộ chúng em những tờ truyền đơn gây quĩ cho anh em thương phế binh, để minh có một ít ngân khoản cứu trợ nhau."

    Sau khi đưa cho anh tập truyền đơn, Màng vội vàng leo lên chiếc xe xích lô, đạp đi đến những anh em quen biết để nhờ họ ngay mai đi phân phối tại nơi khác. Màng là một cựu Chuẩn úy, Sĩ quan đoàn viên thuộc Liên Đoàn đặc nhiệm tại Thuận An. Trong ngay Huế thất thủ, Màng chán nản khi thấy quân lính tranh nhau xuống tau, phân tán hỗn độn. Dân chúng hoảng hốt bỏ Cố đô vi đa có kinh nghiệm Tết Mậu Thân, sợ ở lại chết không có đất chôn.

    Màng bị đẩy theo làn sóng người lên một chiến đĩnh nhỏ của Lực Lượng như người mất trí. Anh ta chẳng có vợ con gì cả, cha mẹ thi đa chết từ lâu, chỉ có một thằng em trai đi Biệt động Quân, nay đang ở đâu tren Ban Me ThuộT, ít khi liên lạc nen anh cũng không biết sống chết như thế nào. Mang theo cuộc di tản vao đến Saigon vừa đúng lúc miền Nam sắp sửa đầu hang, anh không muốn đi qua Mỹ, biết làm gi bên đó. Vi thế sau ngay 30 tháng 4, anh lại tim đường trở về Huế, ra trinh diện va đi cải tạo hơn sáu năm. Mang vẫn thấy may mắn hơn những chiến hữu khác vi anh ta không bị tan tật va con rất khỏe mạnh nhờ biết tập thể dục hang ngay, lại them lao động chân tay, vát cây đốn củi dưới nắng mưa của núi rừng Lao Bao. Thế ma không bị bệnh cũng nhờ phước nha.

    Sau khi được thả ra khỏi trại cải tạo, Màng đi làm công cho một ông bà già vớt cát tren sông Hương, đúng la nghề của chang, suốt ngay lặn hụp như lúc xưa con ở trong Hải Thuyền. Làm được hơn một năm, Màng bắt đầu muốn lam một cái gi để giúp cho các bạn thương phế binh đồng đội cũ, ma muốn như thế phải có phương tiện di chuyển. Vi vậy anh thuê một chiếc xe xích lô cũ, vừa chở khách qua ngay vừa lien lạc với các đan anh chiến hữu, tổ chức một hội cựu Thương phế binh trong vong bí mật, để giúp đỡ lẫn nhau.

    Thương phế binh là nạn nhân của chiến tranh, những người chịu thiệt thoi nhất trong cuộc chiến, bị quen lang không những chỉ bởi chính quyền cũ hay mới ma ngay từ tất cả người thân thuộc. Họ không muốn gánh nặng lo lắng chăm sóc cho các người tan phế, du cho những người đó là bà con hay chồng của minh. ?ây la trường hợp của người nien trưởng của Màng.

    Cuộc chiến trên chiến trường vừa chấm dứt sau ngày đất nước mất vào tay của Cộng sản, thi cuộc tranh đấu với những niềm khổ nhục để sống con trong các trại giam va trại tu cải tạo bắt đầu từ giây phút đó. ?ặc biệt la đối với những Sĩ quan thuộc chế độ cũ có dính líu đến tinh báo, an ninh ma họ đa thi hanh vi công vụ va trách nhiệm lúc trước.

    Niên trưởng của Màng cũng ở trong trường hợp nay, anh bị bắt lam tù binh sau khi cụt mất một chân trong chuyến công tác tại Cửa Việt, ngày trước khi Huế di tản và sau đó bị giam cầm chung trong trại giam của Màng, sau năm bảy lăm. Mang nhớ lại những kỷ niệm của hai người nhất la trận lụt năm bảy ba, ma chiến thuyền Yabuta của Mang phải vượt giong nước lũ tran từ sông Hương đổ ra biển Thuận An, để đi cứu chiếc PBR của Giang đoàn Tuần thám bị lạc đường trong đem tối tren đường về căn cứ và bị mắc cạn tại một cồn đất gần đó. Trung úy Sĩ quan tinh báo phải được vị Liên đoàn trưởng ôm diu và lội đến chiến thuyền của Mang nằm cách đó khoảng 100 thước va đang tung giây tiếp cứu. Trong đem đó khi nhin tấm thân gầy com của vị niên trưởng đang run cầm cập dưới cơn gió lạnh trong đem vắng, sau nay Mang không thể tưởng tượng con người nay lại có một tinh thần chịu đựng dũng mảnh trong những chuỗi ngay tu đay trong trại cải tạo tren chiếc nạng gỗ.

    Màng còn nhớ lại ngày hôm ấy, trong một buổi sáng mua thu, lá rừng bắt đầu thay đổi qua mau vang úa, cơn gió miền nhiệt đới bớt nóng oi bức và nắng vang đa soi bóng trên con suối nhỏ cạnh trại giam. Tất cả đang sửa soạn len đường lao động, nien trưởng của Màng được gọi len văn phong trại để thông báo tin gia đinh. Mọi người đều ngạc nhien vi ít khi trại vien được gọi len về những lư do như vậy, ngoại trừ trường hợp thật khẩn cấp. Quả thật đúng như Màng lo sợ sẽ có chuyện không lành xảy ra cho vị niên trưởng thân yeu của minh.

    Màng được cán bộ Cộng sản cho biết là hai hôm trước, chiếc xe đo chở vợ va con gái của vị nien trưởng bị nổ tung vi chạy qua một quả mìn còn sót lại, trên con đường đất dẫn đến trại giam. Vợ của nien trưởng bị thương nhẹ, rieng cô con gái độc nhất vừa len chín tuổi bị tử nạn. Sau đó gần hai năm trước khi Mang được thả ra, Màng lại được tin vợ của người nien trưởng nay đa rời Huế vao Sai gon va có lẽ đa vượt biên đi Mỹ cung với gia đinh giàu có của bà ta. Niên trưởng của Màng được trả tự do trong đợt phóng thích tu nhân chính trị đầu tien của Cộng sản, về ở trọ với người em gái và đứa con trai của cô nay tại lang Tây Thượng gần Huế.

    Khoảng sáu tháng sau khi làm việc xúc cát từ đáy sông Hương va tim được địa chỉ nien trưởng của Mang, anh cựu chiến binh Hải Thuyền liền vội tim đến thăm vị nien trưởng va chia buồn với người đan anh bất hạnh nay. Sau đó Màng cũng đưa một phần số tiền đa danh dụm được cho người niên trưởng, để giúp đỡ một phần nao cảnh túng thiếu của người bạn cũ.

    Ban đầu người nien trưởng nhất định từ chối, nhưng sau đó thấy Màng năn nỉ va nước mắt chảy xuống má, nien trưởng cảm động nhận lấy món qua của anh chang Hải Thuyền cứng đầu ngay xưa, rồi hai anh em ôm nhau khóc rong va tâm sự suốt đem. Kể từ ngay đó, tinh chiến hữu đa trở thành tinh anh em ruột thịt đậm đa, Màng để danh tiền va viết thư cho những vị Sĩ quan ?ơn vị trưởng cũ ma anh biết địa chỉ tại Mỹ, yêu cầu giúp đỡ cho niên trưởng của mình. Số tiền nhận được rất khá, nen Màng sắm cho niên trưởng một chiếc chân giả loại tối tân với phụ tung rất tốt, tháo ra gắn vao dễ dang va rất nhanh, đi đứng thoải mái, không khác gi chân thiệt.

    Hôm vừa nhận được thư của vị Liên đoàn trưởng Liên Đoàn đặc nhiệm, hai anh em vừa đọc vừa khóc, nhớ đến tinh thầy trò, nhớ lại những chuyến hải hành đem, những trận phục kích trong vùng địch. Tất cả nay chỉ con trong dĩ vang chán chường. Hai đứa thương mến và thông cảm cho vị cựu Chỉ huy trưởng, một người một hoàn cảnh, chúng nó du thiếu thốn về vật chất nhưng mỗi buổi sáng vẫn con thích thú hít hưởng không khí trong lành của đất Mẹ, chỉ tiếc là trong hoàn cảnh cực khổ va môi trường khác biệt với ngay xưa cũ. Con những người ra đi, đâu biết sẽ có ngay thấy lại nơi chôn nhau cắt rún và rồi khi tuổi đời bóng xế, chỉ mong tim một thoáng dư âm kỷ niệm, trong đem dai vắng lặng tren xứ lạ que người, hầu thỏa long thương nhớ cố hương mà cũng không được, để sau cùng phải gửi nắm tro tan của thể xác tại miền đất lạnh xa xôi.

    Công tác thành lập hội Ái hữu Thương phế bình tiến triển rất tốt đẹp, kết quả khả quan đến độ Mang được các bạn trong nhóm cảnh cáo cho biết hinh như cán bộ đang theo dõi và có ư định gây khó dễ cho tổ chức. Màng mỉm cười khi nghe tin này, anh biết bộ mặt thật của chúng nó quá mà, từ xưa đến nay vẫn thế, không có gi thay đổi được con người vô lương tâm. Thương phế binh, luôn luôn la nạn nhân bất lực trước mọi hanh động vô nhân bất nghĩa của tất cả chế độ, đa quay lưng và phủi tay trước những con người bất hạnh nay, xem họ như la một gánh nặng của xa hội, vì không còn tiềm năng sản xuất. Thế mà khi có người vi long nhân từ, nhớ ơn những nạn nhân chiến tranh nay, ra tay giúp đỡ thay cho chính quyền va xa hội, thi lại bị gây khó dễ, bị hăm dọa đủ điều. Thật là bất công và khó hiểu. Tuy không chú tâm nhiều đến điều nay, Mang cũng thông báo cho nien trưởng biết để đề phong va ngay chính minh, Mang cũng cẩn thận hơn trước.

    Người cựu chiến binh Hải Quân khập khểnh đi về hướng chợ mới, chỉ con khoảng nửa cây số nữa la tới nơi. Tren đường người đi tấp nập, kẻ gánh người gồng đi vượt qua trước anh ta. Tiếng người cười nói vui vẻ, tiếng trẻ nít vui đua tíu tít. Anh vươn vai, nở vong ngực, thở ra, hít vào thật mạnh không khí trong lành của buổi sáng, nhin len bầu trời xanh dương. Từng đan chim én lượn vong tren những mái tranh che vội trong khu chợ mới, tơ trời phất phới theo cơn gió nhẹ ban mai. Trời hôm nay trong vắt không một gợn mây như hứa hẹn một ngay nắng ấm cuối muà thu.

    Anh chợt thấy lòng mình thắt lại khi tưởng nhớ đến đứa con gái bị chết cũng vao mua thu năm đó va người vợ đa quen hết tinh nghĩa ra đi không một lời gia biệt trong một buổi sáng trời vừa vao xuân. Con đâu những chuỗi ngay vang của ngay xưa cũ, ben nang tay trong tay cùng sánh bước tren bai biển nhiều gió của Thuận An trong buổi sáng mua hè, hay dưới rặng thông gia ben núi Ngự Binh, trên đồi Vọng Cảnh khi con yeu nhau trong lứa tuổi học tro.

    Những buổi hẹn ho trong rạp chiếu bóng Châu Tinh, Tân Tân, dấu diếm, e thẹn với nụ hôn tinh tứ. Anh con nhớ rất ro trong giấc mơ hằng đem, vao những buổi chiều tắt nắng, hai vợ chồng đeo nhau tren chiếc Honda, chở theo bé, chạy qua chiếc cầu nhỏ trên thôn Vĩ Dạ, qua Gia Viên, đến quán che quen thuộc tren Cồn Hến, để thưởng thức ly chè đậu xanh đặc nước đá bao ngọt lịm. Nang thường ăn che đậu váng đặc, bé thi thích ăn chè hạt sen. Gia đình thường chọn những đem trăng rằm cho những chuyến đi qua Cồn Hến, vì anh muốn nhin trăng lên từ những hàng dừa xanh bên giòng sông Hương, nước trong vắt đang lờ lững chảy.

    Tiếng người gọi nhau ơi ới đưa anh về thực tại từ giấc mơ dĩ vang. Anh đa đến khu chợ mới va chọn một chỗ ngồi cho minh tren chiếc băng gỗ công cọng, móc túi lấy cuộc băng keo để dán một tờ truyền đơn trên băng ghế. Một xấp giấy viết thư mau xanh nhạt rớt từ túi quần xuống đất. Anh thờ thẫn nhặt len, một bức hinh cũ chụp hồi bé con mới hai tuổi cung với hai vợ chồng, nằm giữa những tờ giấy mỏng. Anh liếc nhìn, thở dài, hai tay hơi run rẩy, rồi xếp lại bỏ vào túi quần.

    Tiếng máy xe Honda nổ don xen lẫn tiếng ồn ao của buổi nhóm chợ. Anh vừa lấy chiếc hộp trống bánh Lu để ra ben cạnh chỗ minh ngồi, vừa nhin về chiếc xe Honda chở hai thanh niên, mặt may lạ hoắc, đang thỉnh thoảng liếc về phía anh rồi nhin đi chỗ khác khi gặp ánh mắt của người thương phế binh. Nhớ lại lời cảnh cáo của Màng, anh hơi phân vân, nhưng rồi khi những người qua lại, chào hỏi va bỏ tiền vào chiếc hộp, sau khi đọc tờ truyền đơn, anh quên mất và không chú ư đến hai người đó nữa.

    Buổi chợ nhóm đến khoảng ba giờ chiều tì tan dần, mọi người từ từ sửa soạn ra về. Anh thu xếp vai tờ truyền đơn con lại, đóng nắp hộp tiền quyên được va đứng dậy tập tễnh đi. Anh vừa đi vừa nghĩ đến khuôn mặt ngạc nhiên và vui vẻ của Màng khi nhin thấy kết quả của một ngay vận động quyên góp tiền hôm nay. Thế mới biết người dân chân thật du sống dưới bất cứ chế độ nao, họ cũng giữ được tấm lòng từ thiện, thương người cố hữu va sẵn sang chia sẻ niềm bất hạnh của những đồng hương thiếu may mắn.

    Có tiếng máy Honda rú mạnh từ phía sau lưng, tiếng máy xe mà anh đa nghe hồi sáng sớm khi vừa đến chợ, anh tránh vao lề đường va quay lại để nhin. Bỗng nhiên khi tiếng máy xe đến gần, anh cảm thấy như có một ban tay giựt mạnh chiếc hộp bánh Lu, rồi người anh bị đạp thật mạnh về phía trước. Anh mất thăng bằng tren chiếc chân giả ben trái. anh té sấp xuống đất, đầu anh đập mạnh tren những hon đá sỏi.

    Anh cảm thấy máu mũi hinh như đang chảy ra. Thế rồi những cú đấm tới tấp vao mặt, vao người, tóc anh bị kéo len cao, rồi đầu anh bị đánh mạnh xuống đất. Hai tay anh chơi vơi bất lực, như muốn níu kéo một cái gi đa mất va sắp mất. Anh thoáng nghe tiếng người la hốt hoảng keu cứu đâu đây, va rồi anh thấy minh nhẹ hẳn lên, hồn anh từ từ bay len cao, anh mơ thấy bé đang mỉm miệng cười, dang tay chờ đón linh hồn anh.

    Màng vừa gò minh trên chiếc xe xích lô, vừa nhấn mạnh ban đạp. Anh càu nhàu trong miệng : " Biết rứa thi đừng đón ông khách cuối la kịp đón nien trưởng trước khi chợ tan rồi ." Khi qua đến ngã ba gần đến khu chợ, anh vội vang lách qua một bên và thắng gấp để tránh chiếc Honda, chở hai người thanh niên, mặt may có vẻ hốt hoảng, xả hết tốc lực chạy ngược về phía xe của Mang. Anh chửi thề trong bụng rồi tiếp tục nhấn ban đạp lái chiếc xích lô về phía người niên trưởng, giờ đây có lẽ đang tập tễnh trên chiếc chân bị cụt.

    * * * * * ********

    Màng ngồi trên chiếc ghế đá trong một công viên tại thành phố Saigon hoa lệ ngay xưa. Tiếng máy xe gắn máy, tiếng coi xe hơi inh ỏi, tiếng ồn ao của một trong những nơi nhiều bụi bậm va không khí ô nhiễm nhất thế giới. Anh thả hồn m&ingrave;h vào trong những ư tưởng chán chường.

    Sau khi chôn cất xong người niên trưởng thân yêu, Màng không còn ư chí muốn sống tại que hương nữa. Một cây làm chẳng nên non, vả lại anh đa mất đi rồi, còn ai để tâm sự, để nghe những lời khuyên nhủ thành thật về triết lư của cuộc đời. Thế rồi khi nhận được thư chia buồn của vị Lien ?oan trưởng cũ từ Mỹ gửi về, thông báo cho Mang biết về chương trinh xuất ngoại nhân đạo " H.O. ", anh tập họp các bạn va cho biết ý định của minh. Màng quyết định vào Saigon, sống tạm thời với người em trai, trước ở Biệt ?ộng Quân, đi cải tạo bảy năm,hiện nay về sinh sống với vợ va hai con tại đây. Mang giúp em giao hang hằng ngay trong khi chờ xin đi qua Mỹ theo diện "H.O." nay.

    Trong hơn một năm sống tại Saigon, Màng thấy bổn phận của minh như đa được an bay cho anh khi đến đất Mỹ. Hằng ngay đi giao hàng ngang qua những con đường phố, Mang thấy tren những vĩa hè, những thương phế binh cụt hai chân, trên chiếc nạng gỗ hoặc may mắn hơn, ngồi trên những xe lăn, tay cầm chiếc lon sữa bo, xin người qua lại giúp đỡ.

    Anh chợt liên tưởng đến người niên trưởng cụt chân quá cố của minh ma không cầm được nước mắt. Màng móc trong túi áo trận bạc màu ra một phong bì, bên trong đựng lá thư mau xanh và một bức hinh nhỏ của gia đinh người niên trưởng.

    Màng có hứa với em gái của niên trưởng trong ngày đưa đám la khi Màng đến đất tự do, sẽ tim ra địa chỉ của vợ nien trưởng va Màng sẽ gửi lá thư tâm tinh ma ông đa viết nhưng không gửi đi. Màng đa tim ra người em trai của ba vợ nay, con sống tại Saigon, anh có đến thăm va hỏi địa chỉ của ba tại Mỹ, nói la để chuyển lại những vật kỷ niệm của nien trưởng cho ba ta.

    Tháng ngày trôi qua chậm chạp, nhất là đối với những người chờ đợi được chấp thuận ra đi. Thế rồi sau hơn sáu tháng bồn chồn lo âu vi không biết giấy tờ có đầy đũ hay không, Màng lèn máy bay rời đất Mẹ, trong một buổi sáng trời mưa ngập đầy đường. Nhin quê hương chim dần dưới cánh bay, Mang không cầm được nước mắt.

    Thôi hết rồi đất nước thân yêu, thôi xa rồi người nien trưởng quí mến. Nhưng Mang biết nhiệm vụ truyền thông của minh đang chờ đón Mang tại nơi xứ tự do, nơi có nhiều phương tiện để Mang tiếp tục vận động giúp đỡ cho thương phế binh tại què nhà, những người đang bị xa hội bỏ quen, trong kiếp sống con lại của những người thiếu tinh thương va không may mắn.

    * * * * *

    Người đàn ba dáng dấp nho nhỏ, trong chiếc quần Jean màu xanh nhạt, chiếc áo sơ mi để hở cổ, mang giay tennis, đang tưới cây trước một căn nha kiểu rambler xinh xắn. Tiếng của phát ngôn vien từ radio cho biết tin tức khí tượng hôm nay tại Nasville, có thể có mưa giông vào buổi chiều. Bà ta lắc đầu cằn nhằn không vừa ư vi thời tiết xấu.

    Chiếc xe bưu điện dừng lại trước nhà, người đưa thư vẫy tay chao, nói vai câu xa giao rồi bỏ thư từ vào thung va tiếp tục lái xe chạy đi giao cho những nha ben cạnh. Ba vợ ngừng tưới cây, quay vao nha trong gọi lớn bằng tiếng Mỹ:

    - " Honey, please get the mail for me, thank you."

    Ông chồng Mỹ, với mái tóc trắng nhiều hơn đen, bụng lớn hơn vong ngực, trong chiếc quần sọt, xệ xuống khỏi rún, áo thun ba lỗ, đủng đỉnh từ từ ra mở hộp thư, vừa đi vừa đọc những giấy tờ vừa được gửi tới. Ông đến cạnh ben bà vợ người Việt Nam, đưa một phong bi có vẻ hơi day hơn lá thư thường. Ba ta mỉm cười cám ơn ông chồng Mỹ, cầm chiếc bi thư với dong chữ không quen thuộc của cậu em trai ở Sai gon.

    - " Tại răng lại viết bằng tiếng Việt có đánh dấu đàng hoàng ma lại không có địa chỉ của người gửi? " Ba phân vân va thắc mắc không biết lá thư nay của ai gửi va từ đâu tới, vừa quan sát phong bi vừa lẩm bẩm:

    -" A, ma có dấu của bưu điện, để thử xem thật kỹ nào, thư không phải xuất phát từ Việt Nam, Frederickburg VA? Virginia, USA? Thư được gửi từ tiểu bang Virginia, của ai rứa he? "

    Bà tò mò xé vội lá thư; một chiếc ảnh nhỏ rơi xuống đất ... Trong nhà, văng vẳng từ bộ máy stereo của cậu con trai rieng của ông chồng Mỹ, giọng hát của ca sĩ Real McCoy trong bản nhạc " Another Night " đang thịnh hanh tại Hoa Kỳ:

    -" Another night, another dream... In my dream, I dreamed of you..."

    Hoa Thịnh Đốn, Xuân Kỷ Mão

    Lê Bá Thông

    Gương hy sinh anh hùng: bạn tôi

    KQ Nguyễn Viết Trường!

    Hoà bình và chiến tranh là hai danh từ đa quá quen thuộc với dân tộc Việt Nam ta, nhin vao quá trinh Lịch sử của đất nước chúng ta thấy: vận nước đổi thay hết Hoa Binh rồi lại Chiến Tranh, hết Chiến Tranh rồi lại Hoa Binh. Trong mỗi giai đoạn Lịch Sử, nảy sanh biết bao nhieu anh hung, có những người được lưu truyền hậu thế,có những người bị bỏ quen lang theo thời gian...?!

    Nhưng với những gi họ đa hy sinh, chúng ta và những người hiểu chuyện đều vẫn ngan đời khó quen va luôn vẫn trân trọng.?!

    Riêng Tôi, mỗi năm cứ đến ngay ba mươi tháng tư oan nghiệt, Tôi lại cảm thấy bồi hồi tấc dạ, vẫn thắp nén hương long cho người bạn thân nhất đời minh đa: Vị Quốc Vong Thân.?!

    Anh đa chiến đấu ngoan cường, sống hiên ngang va trọn đời danh cho đất nước...?!

    Những sự hy sinh đó đối với người đời bây giờ? chỉ la một sự hy sinh âm thầm, va... ít ai biết đến! có chăng, chỉ la sự tưởng nhớ của những chiến sĩ thân quen, của gia đinh va họ hang ma thôi!!!?!

    Một cái chết oai hùng, nhưng chẳng có được một tấm huy chương an ủi? một sự chiếu cố tối thiểu của những người con lại sau cuộc chiến? Lịch sử đối với anh ra sao?... không ngoai mấy chữ: CHIẾN SĨ VÔ DANH!??!

    Trong phạm vi bài viết này, xin cho Tôi được trải dai tâm sự, mong sao những ai có đọc bai nay, hay nguyện cầu cho anh được ngậm cười nơi chín suối... Xin hay danh một phút, để tưởng niệm một người trai thời loạn, đa hy sinh vi Chiến cuộc, đó chính la anh: NGUYỄN NGỌC TRUNG.?!

    Anh Nguyễn Ngọc Trung sinh năm 1943, tại Thủ Dầu Một, (miền Nam Việt Nam) số quân: 63/601.140, Cấp bậc cuối cùng là Đại Úy Thực Thụ, Hiện Dịch của Quân Chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hoa.?!

    Anh theo học khóa 64C Sinh Vien Sĩ Quan Phi Hành, đa từng du học Hoa Kỳ năm 1965, để học lái T28 tại căn cứ Không Quân Hoa Kỳ: Randolph (Texas). ?ơn vị ?ơn vị cuối cung la: Phi ?oan 116, Không ?oan 74 Chiến Thuật, Sư ?oan 4 Không Quân, đồn trú tại Tra Nóc (tỉnh Cần Thơ).?!

    Anh biết võ “Tiều” và chơi bóng rổ rất hay, đặc biệt rất me đánh bai!?!

    Anh theo Đạo Thiên Chúa Giáo, có một vợ va hai con (một trai, một gái).?!

    Tôi bắt đầu quen anh vao năm 1964 cho đến năm 1975.?!

    Chúng tôi quen nhau từ ngày đầu tấp tểnh cung vao Lính, rồi trở nen thân thiết trong suốt đời sống quân ngũ.?!

    Ngay đầu tien gặp mặt, cũng la ngay hai đứa đi khám sức khỏe ở Trung Tâm Giám ?ịnh Y Khoa tại Tân Sơn Nhứt (Sai Gon). Anh la người gợi ư lam quen với Tôi trước, do thấy Tôi lúng túng về “cân kư”, anh đa mách nước cho Tôi thoát qua “cửa ải” gay go nay (chỉ đối với Tôi thôi! vi khi đó Tôi ốm tong ốm teo, chỉ khoảng độ tren dưới 59 kư lô).?!

    Thế rồi qua nhiều môn khám khác nhau nữa, chúng tôi đều trót lọt, va cuối cung cả hai đều được trúng tuyển vao khóa 64C Sinh Vien Sĩ Quan Phi Hanh, ngay 01 tháng 10 năm 1964, chúng tôi chính thức được gia nhập vao đại gia đinh Không Quân Việt Nam Cộng Hoa.?!

    Chúng Tôi được thuyên chuyển từ Sai Gon ra Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha - Nha Trang tren loại máy bay vận tải C47.?!

    Tại đây, chúng tôi được huấn luyện về căn bản quân sự, được theo học khóa sinh ngữ (Anh văn). Man khóa sinh ngữ, chúng tôi được khám sức khỏe kỹ lưỡng va được đi du học Hoa Kỳ. Tuy tai khóa, có người học lái trực thăng,có người học lái khu trục... Khóa Tôi, ai cũng được đi du học ở Hoa Kỳ. Tuần tự xuất ngoại, tuy theo trinh độ sinh ngữ, tinh trạng an ninh cá nhân, va tai khóa.?!

    Cuộc đời phi hành của hai đứa tôi cũng “ba chìm bảy nổi, tám cái long đong “, nhưng rốt cuộc cũng cung về căn cứ Không Quân Tra Nóc (Cần Thơ) để rồi gắn bó với Phi ?oan 116 cho đến ngay đất nước sa vao tay Cộng Nô! (30 Tháng Tư 1975)?!

    Trong những ngày cuối cung của cuộc chiến đầy tức tưởi đó, Tôi đa giết được 92 ten Việt Cộng (không kể những xác không toan thây) tịch thu được hang tấn vũ khí va đạn dược, phá hủy tren 120 chiếc thuyền đủ loại... Ngay sau khi Tôi vừa hoan tất phi vụ, tướng Mạch văn Trường va các phóng vien đai truyền hinh Cần Thơ đa đáp trực thăng xuống tại hiện trường trực tiếp thu hinh va phát hinh ngay len tren đai truyền hinh, cho mọi người được chứng kiến tường tận chiến công nay... va rồi, theo lệnh của Tư lệnh va Tư Lệnh phó Quân đoan bốn, quân khu khu bốn, thuộc vung bốn chiến thuật la Trung tướng Nguyễn Khoa Nam va Thiếu tướng Le văn Hưng, Tôi đa len dai truyền hinh Cần Thơ để trinh bay những việc minh da lam, với mục đích củng cố them niềm tin của dân chúng với Quân ?ội.?!

    Tôi được tưởng thưởng huy chương va được đặc cách len Thiếu Tá... chưa có dịp khao lon cung anh em trong đơn vị, thi ngay Mất Nước đa tới.?!

    Con Nguyễn Ngọc Trung, anh cũng đa cần trường chiến đấu với Cộng Quân trong ngay 30 tháng 04 năm 1975. ?ể rồi bị Trúng ?ạn va đa Hy Sinh anh dũng ngay trong giờ thứ hai mươi lăm, sự ra đi oan nghiệt đó, chẳng có gi để được bu đắp? anh đa âm thầm đi vào long đất Mẹ, để lại những tiếc thương vô van của Thằng Bạn Thân nhất của anh: Chính La Tôi! va những đau đớn tuyệt đỉnh của Gia ?inh anh, Vợ, Con anh! va Bạn be thân quen!?!

    Tổ Quốc không có dịp để ghi ơn anh? va nếu có cơ hội, có điều kiện, chúng ta hay thể hiện những nghĩa cử ?úng Mức cho một chiến sĩ Vô Danh: NGUYỄN NGỌC TRUNG!? Kỷ niệm về anh đối với Tôi thi thật la nhiều, Tôi chỉ xin đan cử một vai suy cảm tản mạn về anh như sau: Anh la người miền Nam, Tôi la người miền Bắc, anh la con nha Vo, con Tôi la con nha Văn, (tuy thực tế: Tôi lại la dân Tác Chiến!) ấy vậy ma hai đứa tôi chơi thân, thật thân với nhau trong suốt cả cuộc dời quân ngũ.?!

    Trông anh lực lưỡng, nước da bánh mật, do đó anh em trong khóa 64C đa đặt cho anh hai Hỗn danh la: TRUNG MẶT CHÓ va TRUNG ?EN. (Không quân chúng tôi tiếu lâm như vậy đó!?!

    1Những ngày đầu về Phi đoàn, hai đứa tôi cũng ở chung một phong trong cư Xá ?ộc Thân của đơn vị, những lúc rỗi rảnh thường hay tâm sự đời minh cho nhau nghe, về việc học Vo của anh, anh nói la anh rất thích, thay của anh có ten la Thay Năm Chuột, (sở dĩ có tên này là vì thay thứ năm, nhưng chỉ với một chiếc đũa, thay có thể” búng” Chết một con chuột chạy ngang qua mặt) trong số đệ tử, anh la người được thay quan tâm nhiều, thường thường được thay chỉ dạy them về ban đem. Mỗi khi học đem, anh đến vo đường một minh, tự mở cửa va bước tới ban thờ “Tổ”, thắp nhang rồi mới được học Vo, phong tập vo tối đen như mực, thay sẽ xuất hiện bất ngờ để tấn công anh, nếu anh đỡ được đon, thi hôm ấy sẽ dược thay dạy, nếu không đỡ được đon, thi coi như “Pheo” tự động chao thay rồi ra về, ngay khác đến học.?!

    Anh có chỉ cho Tôi mấy miếng võ bí truyền để phong thân, những miếng vo nay mang tính Sát Thủ, nen cho du đến bây giờ, Tôi đa ngoai sáu mươi tuổi đầu, gần đất xa trời đến nơi, ma chẳng bao giờ dám động thủ...???!!!?!

    Anh con dặn Tôi, mỗi khi đến chỗ lạ, không biết ai xấu, ai tốt ra sao, phải luôn luôn đề phong la hơn, nhất la những nơi ăn nhậu, có được mời, thi hay kiếm chỗ góc nha ma ngồi, tránh được kẻ xấu đánh lén đằng sau minh, khi ngồi nhớ: để ghế xéo góc, sao cho một chân ghế nằm giữa hai chân minh, khi có động tĩnh gi, chỉ cần nắm chân ghế la đa có vũ khí trong tay, sẵn sang Tác chiến. Nghe thi cũng có lư lắm! nen đôi khi Tôi cũng áp dụng, tuy nhien chưa bao giờ phải ra tay ma thú thật, nếu có lộn xộn, có lẽ “tẩu vi thượng sách” la chắc ăn nhất?...?!

    Dưới Âm phủ (hay trên Thiên đang) anh mà biết được ư định nay chắc cũng phải phi cười về tính “dĩ hoa vi quư” của Tôi!??!

    Thật ra,các anh em trong Phi Đoàn sẽ chẳng biết anh có vợ, nếu không có chuyện kể sau:?!

    Số là mỗi khi đi ăn trưa hay ăn chiều ở Câu lạc bộ, mọi người đều phải xếp hang theo thứ tự để vao ăn, một bữa nọ, Tôi va Trung đang xếp hang cạnh nhau, thi có anh B... (nay đa mất) cung phi đoan (tuy dưới khóa chúng tôi, nhưng về Phi đoàn trước chúng tôi) đến sau, nhưng tự động len vao giữa hai đứa chúng tôi để đứng, (có lẽ anh cho rằng minh la ma cũ nen lấn lướt, có sao đâu?)?!

    Tôi lên tiếng cự nự, nhưng anh B... cũng lờ đi, con cười khỉnh! anh Trung thấy vậy bực minh, đa len tiếng phải trái, cũng chẳng đi đến đâu, anh B... ngang như cua? bỗng mọi người xung quanh giật minh vi thấy anh Trung hét len một tiếng lớn, va... anh B... đa lanh đủ một cú đá nhanh như chớp của anh Trung, cả thân người bay bổng len va dội ngược ra sau vai thước, toan thân nằm tren hang rao dây kẽm gai gần đó...?!

    Mọi người hết hồn, va ngỡ ngang, anh Trung lặng lẽ kéo anh B... ra khỏi hang rao kẽm gai, trước nỗi sợ hai không ngờ của anh B...?!

    Nhưng vai ngay sau, mọi người thấy hai anh đa thân thiện lại với nhau rồi! Tôi được biết, chính anh Trung đa lại phong của anh B... để xin lỗi trước, anh chỉ nói với Tôi hai chữ: ?áng tiếc về sự việc nay.?!

    Anh Trung ăn nói rất có duyên, lại “teu tếu”, nhất là khi anh nở nụ cười thi trông anh cang dễ mến va hấp dẫn... ?ó chính la đặc điểm khiến cô gái nao nói chuyện với anh cũng dễ bị anh thu hút!??!

    Mười mấy tiểu khu ở vung bốn, anh đều có đặt chân đến, đa có ít nhiều mối tinh lớn nhỏ mang theo. tuy hao hoa phong nha, hữu tinh như vậy nhưng khi lập gia đinh, anh luôn chứng tỏ la một người chồng gương mẫu (thế mới biết các cụ ngay đó khôn thật, cặp bồ thi các cụ cấm đoán chứ KQ ma hỏi cưới con các cụ la các cu O.K liền).?!

    Nói đến Vợ, Tôi cũng xin được mở dấu ngoặc ở đây, để nói về chuyện lấy vợ của anh:?!

    Vao năm 1969, căn cứ Đồng Tâm có 03 phi hành đoàn biệt phái ở đấy, Tôi la Biệt ?ội Trưởng, chúng tôi lam việc rất hăng say, có hiệu quả, trong các công tác được trao phó, nhưng cũng “lả lướt” “một cây xanh rờn”, anh nao cũng đều có đôi, có cặp, để những khi xong phi vụ, có thể “vi vút” như đien!?!

    Tôi có quen một cô nữ sinh, học lớp 12, mới đầu chỉ là mối tinh của “anh trai tiền tuyến em gái hậu phương” thôi, nhưng sự dịu dang đoan trang, nết na, duyen dáng của nang đa hớp hồn tôi, lúc nao không hay, để rồi thời gian sau Tôi phải “xin nhận nơi nay lam que hương”! (vi Tôi va nang đa lấy nhau sau đó).?!

    Những ngay quen nhau, mỗi lần xong phi vụ, trước khi đáp, Tôi đều bay lượn sát nóc trường, (nơi nang đang học) một phần cho nang biết Tôi đa xong công tác, có thể nghỉ ít giờ, một phần tạo điều kiện để nang “lấy le” với mấy bạn học, nha nang ở Lương Hoa Lạc, xa thanh phố Mỹ Tho do đó những ngay nang nghỉ học, muốn rủ nang đi chơi, Tôi cũng thường bay sát nóc nha nang để lam “ám hiệu”, có lần Tôi lấy mực viết mặt sau những tờ truyền đơn mấy chữ “I Love You”, rồi bay sát nha nang va thả truyền đơn xuống, truyền đơn bay tỏa khắp xung quanh nha nang, nang thích lắm, đem khoe cung khắp bạn be (Kể ra hồi đó đien thật! mấy ông An phi ma biết chuyện thi phiền to!)?!

    Năm 1970, chúng tôi lấy nhau, Ngay cưới, anh em Không Quân đi dự khá đông, Trung lam phụ rể, khi rước dâu về Sai Gon, đoan xe chạy tren Quốc Lộ bốn, bạn be tôi chúc mừng bằng cách bay theo hộ tống đoan xe, Kỷ niệm nay Tôi chẳng bao giờ quen được!?!

    La người biết được đầy đủ mối tinh lang mạn của vợ chồng Tôi, Trung thích lắm...?!

    Sau đó một thời gian, Trung tâm sự với Tôi:?!

    Trường nay, Tao có quen một em làm Thẩm Mỹ Viện ở ngoai Cần Thơ, may giúp tao đi điều tra xem em có thể lam vợ tao được không? May va em đều la Bắc Kỳ Di Cư nen tao nghĩ may sẽ có những nhận xét chính xác va tin tưởng được??!

    Tôi thương bạn và thấy bạn nói cũng có lý, nên đanh phải đóng vai Trinh thám tư không lương vậy thôi! ?!

    Sau khi tiếp xúc và điều tra kỹ lưỡng, Tôi cho Trung biết kết quả như sau: Nang đẹp, có duyên, ăn nói lịch thiệp, khôn khéo va thẳng thắn, Tao thấy may va nang yeu nhau cũng phải! Trai tai gái sắc đó, nhưng không cân xứng đâu... bởi nang thi trắng hồng ma may thi đen như cột nha cháy!!!?!

    Trung phá lên cười ngặt nghẽo, gật gật cái đầu, không nói gi... Ấy thế ma, Trung quyết định lấy nang lam vợ sau đó, hai người đa sống đến cuối cuộc đời của Trung, với thanh quả la một trai, một gái trông rất mũm mĩm xinh tươi.?!

    Tôi người Bắc lấy vợ Nam, còn Trung người Nam thi lấy vợ Bắc, kể ra cũng la sự trung hợp kỳ lạ lư thú,?!

    Mọi người, nhất là các anh em trong Phi đoàn đinh ninh hai đứa tôi sau khi lập gia đinh chắc sẽ bớt đi sự thân thiết, nhưng trái lại, chúng tôi lại cang thân thiết hơn trước!?!

    Nhớ lại những khi còn độc thân, chúng tôi xài tiền của nhau thoải mái, ai hết tiền thi lấy của nhau ma xai chứ không cần phải đi vay mượn ai cả. ?ôi khi đến kỳ đi biệt phái ma lại hết tiền. Trung tự động lấy tiền trong túi áo bay của Tôi, sau khi để lại mảnh giấy nhỏ, cho biết đa lấy bao nhieu tiền, những khi đánh bai ăn, “Vinh Quang” trở về phong, mặc du đa hai, ba giờ sáng Trung cũng dựng đầu Tôi dậy, bắt phụ đếm tiền, rồi chia cho Tôi một số, kem theo lời nói bất hủ: “Tiền của bá tánh, ngu sao không xai, phải không may?!”?!

    Nói đến bai bạc, thì Trung cũng là “Một cây xanh rờn” có lẽ đối với anh đó la lạc thú tren đời, Tuy vậy... việc bay bổng vẫn la ưu tien số 01.?!

    Chưa ai thấy anh bỏ bay hay be trễ phi vụ vi cờ bạc. đây la một điểm son nơi anh ma Tôi va mọi người đều nhận thấy!?!

    Thời gian đi dù học, khi vừa học bay về là Trung xà ngay vao đám chơi bai, anh có thể chơi suốt đem, sáng ra vẫn đi bay tỉnh bơ, không lộ chút mệt mỏi. Dạo con ở Quân Trường, khi Tôi lam SVSQ cán bộ cấp Tiểu ?oan, chúng tôi gọi tắt la Tiểu ?oan trưởng, Trung la Tiểu ?oan Phó. Một lần, Tôi nhận được báo cáo: trong một phong của SVSQ có một số người đang lén lút chơi bai sập xám, Tôi đích thân xuống khám xét, khi đi gần đến phong đó, đa nghe có tiếng Trung va tiếng một số anh khác đang ban thảo về một ván bai... Tôi giận lắm, nhưng biết lam sao được, đanh trở về phong Khóa Sinh và nhờ một SVSQ cán Bộ cấp đại đội xuống để giải quyết sự việc nay thay cho Tôi. Tối đến, trước khi đi ngủ, (giường của hai đứa tôi sát cạnh nhau) Tôi cằn nhằn anh, thi anh trả lời tỉnh bơ:?!

    May thấy đó? Tao mê đánh bai từ trong máu rồi, làm sao ma bỏ được. đa vậy may con đề nghị Tao lam Tiểu ?oan Phó cho may lam gi? để Tao lam “phó thường dân Nam Bộ” có hay hơn không? May tim người thế Tao đi? như vậy vừa hợp lư va dễ dang cho cả hai thằng minh. ?ược vậy Tao cám ơn may nhiều?!?!

    Tôi lặng thinh, không nói được lời nào nữa, rất giận anh, nhưng không thể lam theo lời anh dược! vi nghĩ cho cung để anh ở chức vụ nay, ít ra cũng kim chân được anh đôi chút! Nhiều khi nghĩ về hai đứa tôi, Tôi thấy cũng rất la lạ: chúng tôi có nhiều điểm khác biệt nhau, như Trung thi thích đánh bai, ưa bóng rổ, vo nghệ, chuyện gi cũng xuôi theo tự nhien, con tôi thi thích nhảy đầm, ưa văn nghệ, chuyện gi cũng phải ngăn nắp trật tự, va con nhiều điểm khác biệt nữa chứ!... nhưng chúng tôi chỉ có vai điểm giống nhau la: cả hai đều thích ăn mặc chỉnh tề, đúng “Mốt”, “đắt đao” và “mang Nợ” nhau?...?!

    Chuyện liên quan đến Trung thì nhiều không kể xiết, nhưng nói về anh, ma không đề cập đến những thanh tích của anh trong Quân Chủng Không Quân la một thiếu sót không thể chấp nhận được.?!

    Như Tôi đa nói ở phần đầu bai viết nay, anh là con nhà Võ, do đó việc gia nhập vao một Quân chủng Tác Chiến, như quân chủng Không quân la niềm mơ ước của anh!?!

    Những ngay đầu về Phi đoàn, anh nói với Tôi là rất bực bội về vấn đề nhận diện phương hướng? anh rất mất thời giờ suy nghĩ để phán đoán ra 04 hướng của bản dồ... Tôi tủm tỉm cười va mách nước: May nhin vao bản đồ, ĐẦU la hướng BẮC, “EM BÉ” la hướng NAM, TAY PHẢI la hướng ĐÔNG, TAY TRÁI là hướng TÂY (nhớ: tay TRÁI va hướng TÂY đều bắt đầu bằng chữ T)?!

    Tôi nói kiểu “dễ ăn đon” vậy ma khiến anh đa tim ra “chân lư”! anh cười nói: Cái thằng “đểu” nay có lư! May nói vậy Tao dễ nhớ đấy!?!

    Từ đó chẳng bao giờ thấy anh thắc mắc về phương hướng nữa!?!

    Đi biệt phái ở vùng nào, thường thi tối trước hôm đi biệt phái, anh trải tấm bản đồ ra dưới san nha nghien cứu va điều nghien một minh, cho đến khi nao thấy O.K mới đi ngủ. đến tiểu khu mà& grave;anh được biệt phái, anh tim cách tro chuyện, tham khảo cung Sĩ quan các phong ban chịu trách nhiệm về việc hanh quân của Tiểu khu để anh được nắm vững tình hình hiện tại. điều n&ay cho thấy: anh la người có óc cầu tiến, khi không am tường hay không thấu hiểu ro rang về vấn đề gi, anh tim toi, học hỏi cho bằng được, không hề sợ ai che cười, thật là một con người có trách nhiệm.?!

    Có một lần anh tâm sự với Tôi:?!

    - Bay bổng la cái nghiệp của minh, phải không may? do đó bất cứ vấn đề gi có lien quan đến việc bay bổng, minh phải thật am tường va nắm vững, Phải thâu thập được nhiều kinh nghiệm chiến trường mới có thể giúp đỡ các cánh quân bạn ở dưới đất có hiệu quả, Mỗi khi minh cất cánh bay vao vung hanh quân, la đa đem bao kỳ vọng cho các cánh quân bạn ở dưới, do vậy minh phải: Lam Hết Sức Minh!? Trong thực tế, những diều anh nói với Tôi la đúng! những huy chương anh đeo tren ngực, la thanh quả của công sức va kinh nghiệm chiến trường của cá nhân anh. Trong những lần trao đổi kinh nghiệm về chiến trường, anh đa kể lại cho Tôi nghe một vai chuyện lư thú như sau:?!

    Có lần, Tao đi biệt phái ở Mỹ Tho, vừa bay ngang qua khoảng Cái Bè và Long Định, Tao ngạc nhien khi thấy có một vai thửa ruộng “như nhỏ hẹp lại”, khác với hinh ảnh Tao thường thấy! Tao lien lạc với ALO để xác định xem có quân bạn ở vung nay không? sau khi dược biết không có quân bạn ở vung nay Tao liền phóng một trái rocket xuống một bờ ruộng ngay chỗ đó, tức thi Việt Cộng bỗng vung dậy, chạy tá lả, vai bờ ruộng khác cũng nhúc nhích chuyển dịch... thi ra Tao đoán trúng: Việt cộng đang ngụy trang di chuyển, thấy bóng dáng L19 bay tới, chúng vội ngồi thanh hang ngang, lam thanh như một bờ ruộng, để ngụy trang, Nhưng làm sao qua mắt Tao được? Quan Sát la nghề của “chang” ma may! chúng chạy đâu cho thoát... trận đó Tao lam sạch mấy bờ ruộng giả nay.?!

    Lần khác, Tao bay ở Chương Thiện, chợt Tao nhận thấy có chuyện lạ tren con rạch ma Tao đang bay ở trên, nước trong con rạch chảy xuôi, ma đám lục binh lại “lững lờ” trôi ngược, Té ra mấy “trự” Việt Cộng cũng láu cá lắm, chúng đội lục binh tren đầu để di chuyển ven rạch, nhưng gặp Tao thi sức mấy ma qua mặt, được sự đồng ư của quân bạn, Tao “dập” mấy đám lục binh nay, máu đỏ cả khúc rạch...?!

    Mỗi lần biệt phái ở Tiểu Khu, Phi Hanh đoàn thường phải hoạt động liên tục 15 ngay liền, rồi mới đổi cho Phi Hanh ?oan khác, sau đó được nghỉ phép 05 ngay, đi phép về thi bay tại đơn vị đợi đến đầu tháng hay giữa tháng, sẽ đi biệt phái tiếp tục... ?a số anh em trong phi đoan con độc thân nen thích được đi biệt phái hơn? vi sau những lần xông pha trận mạc, họ có nhiều cơ hội để quen với “các em gái hậu phương”! Trung cũng không ra khỏi ngoại lệ nay, nhiều mối tinh lớn nhỏ, giăng mắc khắp các tỉnh biệt phái, gây nhức đầu không ít cho Trung khi phải giải quyết những vấn đề tinh cảm... Tuy đao hoa, nhưng Trung rất có tinh thần trách nhiệm với công việc đa được trao phó, không bao giờ be trễ, những lúc đụng trận, Trung bay lien tục, hết xăng thi về đổ xăng them, rồi lại bay lam việc tiếp tục, mong sao thắng lợi về phía quân bạn mới thôi! ?ến đây, ô ?ến đây Tôi xin kể lại, những giây phút lịch sử của đời Trung, phi vụ “?ịnh Mệnh” đa khiến anh thanh “Anh Hung Vô Danh”, nhưng... với chúng tôi, anh mai mai la “Người Hung Bất Tử Trong Chiến Tranh Việt Nam”.?!

    ... Sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975 Trung từ nơi biệt phái (Sóc Trăng) gọi về Phi đoan 116 xin cứu viện, vi Việt Cộng đang tấn công dữ dội vao Phi trường Sóc Trăng, anh va Hiệp cung anh Phong (cơ khí viên) đang bị “kẹt” ở đó!?!

    Nhận được tin, mọi người đều sửng sốt, Tôi xin đi bay phi vụ cứu viện nay, nhưng không được chấp thuận, vi Tôi va anh Di đa được Quân ?oan Bốn, chỉ định đích danh, cả tháng nay, phải túc trực tại Phi đoàn, chỉ bay khi có lệnh của Quân ?oan thôi, với nhiệm vụ: yểm trợ hữu hiệu cho quân bạn, ngăn ngừa va phát giác cùng tiêu diệt những sự xâm nhập của Việt Cộng vao địa phận Cần Thơ...?!

    đang bối rối, bứt rứt, thì Tôi nhận được tin anh Lê Văn Sung (đang biệt phái Bạc Lieu) sẽ cất cánh để cứu viện cho Phi Hanh đoàn ở Sóc Trăng, Tôi vô cung vui mừng, bớt lo nhiều vì anh Sung là một Hoa Tiêu xuất sắc của Phi đoàn 116, lại có hai chỉ số (một la chỉ số Hoa Tieu va hai la chỉ số Quan Sát vien) nen trong những trường hợp cấp bách nay quả là hữu dụng, hơn nữa anh Sung lại rất mến Tôi va Trung... thế la Tôi an tâm phần nao khi lấy du để thi hanh phi vụ ở vong quanh vong đai phi trường Tra Nóc...?!

    Sau nay, khi Tôi va anh Sung gặp lại nhau trên đất tạm dung Hoa Kỳ, (chúng tôi rời Việt Nam theo diện H.O sau khi bị Việt Cộng bắt đi Học Tập Cải Tạo một thời gian dai hun hút). Anh Sung đa kể lại cặn kẽ như sau:?!

    Sáng hôm đó, sau khi gọi về Phi đoàn, Trung đa gọi xuống Bạc Liêu cho anh Sung, vì Trung nghĩ Bạc Lieu gần Sóc Trăng nhất, may mắn thay Trung đa được trực tiếp nói chuyện với anh Sung, nguyen văn như sau:?!

    - E! Sung “Combat” lên vùng cứu Tao ngay may ơi! tình hình nguy ngập.?!

    - Sao vậy? sao vậy??!

    - Việt Cộng đang tấn công phi trường Sóc Trăng, tụi nó đa xâm nhập vao tận đầu phi đạo rồi, tụi Tao không thể cất cánh được, tất cả bị kẹt cứng tại phi trường, may cố gắng đến thật lẹ, giải tỏa áp lực địch cho tụi Tao, tinh hinh bi đát lắm!!!?!

    - Yên tâm, Tao tới liền!?!

    Anh Sung gọi cho Th/tá. Lợi, phong Hai tiểu khu Bạc liêu để cung bay với anh, (hai người thường bay chung với nhau), anh nhắn trưởng phong Ba tiểu khu nhớ túc trực tần số nội bộ để anh dễ dang báo cáo khi có chuyện, va không quen nhắn anh nay nhớ thông báo lại cho ?ại Tá Tỉnh Trưởng biết anh đi bay với Th/tá Lợi để thám sát tinh hinh an ninh xung quanh tỉnh...?!

    Chỉ sau 15 phút từ khi nhận được điện thoại cấp cứu của anh Trung, anh Sung đa có mặt tại phi đạo. Anh tự trang bị cho phi cơ 08 trái Rockets loại đặc biệt, loại nay khi khai hỏa sẽ phóng ra hang ngan cái đinh, tầm sát hại rất đáng kể, anh cũng tự trang bị cho minh một khẩu M79 cung một số đạn, một khẩu M16 va 03 băng đạn, thật đúng với nick name ma anh em đa đặt cho la: Sung “Combat”.?!

    Tôi cũng xin được nói ro hơn về loại Rockets mà anh đa trang bị cho phi cơ, thật ra, đây la một loại Rockets đặc biệt chỉ danh các phi hanh đoan của Hoa Kỳ ma thôi, khi quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Bạc Lieu, ?ại Tá ?iệp đa “khéo léo” mới giữ lại được một số Rockets đặc biệt nay, tất cả chỉ có 12 trái ma thôi, được sơn mau hường, chỉ dung trong trường hợp hiểm nguy đến Tỉnh, anh Sung vi muốn cứu bạn, đa liều lấy đi 08 trái Rockets loại đặc biệt nay! “Gan” thật??!

    Thực ra, theo tiêu lệnh hành quân của ngành Quan Sát, các phi vụ chỉ được sử dụng Rockets khói, việc sử dụng Rockets nổ la vi phạm vao tieu lệnh hanh quân. Nhưng trong một số tinh huống nguy cấp, đặc biệt trong những ngay cuối cung của Việt Nam Cộng Hoa chúng ta, phần lớn các phi hanh đoan Quan Sát đa tận dụng đến Rockets nổ để thi hanh phi vụ, một phần Rockets khói không đủ cho nhu cầu hanh quân, một phần các phi hanh đoan Quan Sát muốn một công hai việc, vừa dánh dấu mục tieu tren vung, vừa mong muốn tieu diệt được phần nao quân số của VC một khi phóng Rockets vao mục tieu.?!

    Thật ra, vào thời thời điểm đó, chắc cũng ít ai được sử dụng loại Rockets đặc biệt như anh Sung trang bị cho phi cơ của minh? “uổng thật”!?!

    Vào những ngày cuối của cuộc chiến, tình hình thiếu thốn vũ khí đạn dược cang lúc cang trầm trọng, thật ra từ giai đoạn Việt Nam hóa Chiến Tranh, Hoa Kỳ đa bỏ mặc cho Quân lực Việt Nam Cộng Hoa một minh đương đầu với Cộng Quân va các quan thay của chúng la Lien Sô va Trung Cộng, chính Thiếu Tướng Le Văn Hưng, trong một lần bay hanh quân với Tôi, ông đa thố lộ:?!

    - Đã có nhiều chiến sĩ ở các đồn bót phải sử dụng đến tiền lương của minh để mua vũ khí đạn dược, từ các nguồn buôn bán bất chính, vi sự sinh tồn của bản thân họ, gia đinh họ, trong sự khó khăn ấy, họ cũng đa tự chế tạo ra nhiều loại vũ khí lợi hại cho việc phong thủ cho đồn bót minh, bằng các loại vũ khí đạn dược tịch thu được của địch, hoặc mua bán được!? Vị chỉ huy cấp cao như Thiếu Tướng Le Văn Hưng (Tư lệnh phó quân khu bốn), biết được điều khó khăn nay, ma cũng đanh bó tay, không giải quyết được? Vận Nước đa đến lúc suy tan??!

    Trở lại phi vụ tiếp cứu của anh Sung, vì phi trường Bạc Lieu vao lúc đó con tờ mờ sáng, nen Anh đa phải nhờ Tai xế lái xe đưa anh ra phi trường chiếu sáng phi đạo bằng đen xe, để anh mới thấy đường ma cất cánh, (kể ra cũng xăm minh thật!) Phi trường Sóc trăng có phi đạo nằm theo hướng Bắc-Nam, nơi nghỉ ngơi của biệt đội nằm ở hướng Bắc phi trường, sát bai đậu của phi cơ L19. ?ai kiểm soát ở khoảng giữa phi đạo. Khi phi hanh đoan Sung “Combat” vao không phận phi trường Sóc Trăng, cũng la lúc Việt Cộng đa xâm nhập được vao ngay đầu phi đạo hướng Nam, Kho đạn ?ại đội Công Binh của Tr/tá Minh (chồng nữ ca sĩ Túy Phượng) nằm gần ngay nơi Biệt ?ội L19 ở. kho đạn ấy bị VC tấn công, va lam kho đạn nổ tung trời.?!

    Trung, Hiệp và Phong, mỗi người một cây súng M16, vội và rời vị trí dang ở, để di chuyển sang Tiểu ?oan Pháo Binh gần đó, Sung “Combat” bắt lien lạc được với Trung tren tần số FM, Trung trực tiếp lien lạc với Sung, hướng dẫn Sung “oanh kích” các cứ điểm cung các mũi tiến công của Việt Cộng trong phi trường.?!

    Nhờ sự hướng dẫn trực tiếp và tức thời của Trung, những trái Rockets của Sung phóng xuống mục tieu rất hiệu quả, Việt Cộng bị phản kích bất ngờ từ tren không, nen số chết, số bị thương rất nhiều, buộc chúng phải rút vui va tản ra sang hai ben lề phi đạo để ẩn nấp...?!

    Sự có mặt của Sung “Combat” trên mục tiêu đa làm cho tinh thế đảo ngược trông thấy, quân bạn dưới đất nương vao tinh thế thuận lợi nay, từng hồi, từng hồi, phản công hữu hiệu, những đợt tấn kích của Việt Cộng đa bị bẻ vụn nát...?!

    Với khả năng v&agrace; kinh nghiệm day dạn của Sung, cùng với số Rockets đặc biệt, M79, M16, ma Sung trang bị để cứu Trung, đa gây cho Việt Cộng kinh hoang thực sự, Xác Việt Cộng nằm vương vai tren phi đạo, va trải dai theo hai ben phi đạo rất nhiều, phần lớn con rất trẻ?!?!

    Sau ba tiếng lâm trận, phi cơ của Sung không còn đủ nhien liệu để tiếp tục lam việc tren vung nữa, anh phải rời vung để lấy them nhien liệu tại Bạc Lieu, rồi mới có thể quay trở lại Sóc Trăng... Tren đường về, anh hay tin Trung va Hiệp đa cất cánh được khỏi phi trường Sóc Trăng, va đang trực chỉ Cần Thơ, anh cũng dược tin một số trực thăng Gunships ở Cần Thơ đa có mặt tren vung trời Sóc Trăng để tiếp tục thay anh thanh toán nốt mục tieu. Gần đến Bạc Lieu thi anh nghe được tiếng nói của ?ại Tướng Dương văn Minh, do Việt Cộng truyền đi tren các tần số FM, keu gọi các quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoa buông súng chờ ban giao...!!!?!

    Tất cả những điều nay khiến anh Sung về đáp Bạc Liêu và không trở lại Sóc Trăng nữa!...?!

    Sau nay, Tôi gặp lại được anh Phong (Huỳnh ngọc Phong) người cơ khí vien cung biệt phái với phi hanh đoan của Trung, đa cung bị kẹt ở phi trường Sóc Trăng ngay đó, va được anh bổ túc them những chi tiết quan trọng như sau:?!

    Sau khi anh Sung rời vung, tình hình chiến trận đa bớt căng thẳng nhiều, Trung cũng thấm mệt sau thời gian dai hướng dẫn Sung tác xạ vao các mục tieu có VC trong phi trường Sóc Trăng, bằng máy vô tuyến của Pháo Binh Bạn, nơi mọi người đang trú ẩn. Nhờ sự phối hợp tai tinh giữa Trung va Sung, nen những áp lực của VC không con nguy ngập như trước nữa, Trung ban với Hiệp va Phong:?!

    Cả ba đứa minh cũng phóng ra máy bay, vừa thoát thân được, lại vừa có điều kiện yểm trợ cho quân bạn, ở dưới đất bị động quá! con nước con tát lo gi!?...?!

    Phong nghĩ đến gia đinh và người thân con ở Bạc Lièu, vả lại theo anh sống chết có số cả, do vậy Phong từ chối ư định của Trung, anh nói: sẽ liều minh thoát ra bằng đường bộ để về thị xa Sóc Trăng, hai người đừng phải lo cho anh.?!

    Trung va Hiệp cùng nhìn nhau rồi cùng quyết định: Phải cất cánh... Hai anh từ gia mọi người, rồi cung phóng ra phi cơ, Phi cơ nổ máy... taxi (di chuyển) về phía ?ai kiểm soát Không lưu, khoảng giữa phi đạo, sau đó quay ngược lại hướng đa di chuyển để cất cánh...?!

    Khi phi cơ vừa cất cánh, Phong nghe có những tiếng súng AK47 nổ ròn, nên vội phóng ra ngoai để xem động tĩnh ra sao, anh thấy đạn của Việt Công bắn len máy bay như mưa, khi phi cơ bay ngang qua chỗ Phong đứng,cao độ chỉ hơn một nóc nha, Phong nhin thấy Trung bỗng giật nảy người về phía sau, đầu hơi nghieng về phía ben tay phải... Phong há hốc miệng ngỡ ngang va bang hoang vi chứng kiến tận mắt Trung bị trúng đạn của Việt Cộng! vừa nắm tay nhau từ gia mới vai phút trước bây giờ Trung đa bị trúng đạn rồi... Phong bật khóc như trẻ thơ, anh nghĩ ngay đến tinh đồng đội giữa anh va Trung, nghĩ đến những thời gian qua, hai người cung biệt phái với nhau, nghĩ đến những cảm tinh thật nhất Trung đa danh cho anh, anh thấy thương Trung nhiều lắm! mong sao Trung chỉ bị thương chứ đừng có chết?! anh chạy vao trong nha, thi qua tần số thông tin của Pháo Binh, anh Hiệp đa xác nhận Trung bị trúng đạn va tinh trạng rất nguy khốn, cho nen anh Hiệp sẽ bay thẳng về Cần Thơ, để tim cách cứu Trung... Phong ngồi “phịch” xuống ghế, long đầy đau xót va chán nản cho phận lam người... Một lúc sau, Phong cũng từ gia mọi người liều chết thoát khỏi nơi đây. Về đến Bạc Lieu, Phong gặp được anh Ma Tính (bạn cung đơn vị) Phong đem chuyện đau thương nay kể lại cho bạn minh nghe, hy vọng với phương pháp thông tin kiểu nay, gia đinh anh Trung sẽ sớm biết được tin tức của anh...??!

    Trở lại thời gian trong khi anh Sung đang tiếp cứu phi hanh đoan ở Sóc Trăng, thi Tôi cũng được lệnh cất cánh không thám xung quanh phi trường Tra Nóc... Trong khi bay, qua tần số của đai phát thanh, Tôi đa nghe được lệnh của ?ại Tướng Dương Văn Minh: keu gọi mọi quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoa hay buông súng, ngưng tác chiến, ở nguyen vị trí để chờ ban giao cho Việt Cộng!?!

    Những lời nói nay đa như những nhát dao chém phạt ngang Tôi. Bàng hoàng, xúc động, tủi hổ va uất hận đa khiến Tôi chết lặng người... Tôi con nhớ mới chiều vai hôm trước, Tôi dắt con vao Phi ?oan, Phi ?oan Trưởng Bui Thanh Sử đa gọi Tôi vao văn phong tâm sự:?!

    - Anh Trường, tinh hinh biến động nhiều quá, anh ĐI hay Ở??!

    - Tôi Ở, phải chiến đấu chứ Thay!?!

    (Trong Phi đoàn chúng Tôi thường gọi anh Sử bằng chữ: Thay thay cho Cấp Bậc, để tỏ long kính trọng va thương mến một người đan anh ?ức ?ộ va hiếm quư)?!

    Thay Sử ôm con Tôi vao lòng, cố nén xúc động, nói:?!

    - Vợ con Tôi đa về SaiGon, chẳng ro tin tức, Tân Sơn Nhứt bị pháo kích, không hiểu gia đinh thế nao rồi??!

    Không biết Thay Sử nói với Tôi hay nói với chính mình? nhưng Thay đa ở lại với anh em chúng Tôi tới giờ phút chót.?!

    Sau nay, gặp lại nhau trong kỳ hội ngộ Phi đoan 116, Tôi có nhắc lại chuyện cũ, Thay chỉ mỉm cười hiền hoa va nói:?!

    - Tôi coi các anh như một phần thân thể minh! Sống chết bên nhau là chuyện đương nhien thôi, Bây giờ, công việc của chúng minh la phải có những hanh động thiết thực đối với các anh em con “Kẹt” ở que nha, va đoan kết chặt chẽ ben nhau...?!

    (đó mới thật xứng đáng là cấp chỉ huy, con như ?ại Tướng Dương văn Minh? hay để cho lịch sử phe phán???)?!

    Trở lại giờ thứ hai mươi lăm hôm đó, sau khi nghe những lời nói KHÔNG NEN NÓI đó, Tôi vẫn bay vong vong tren trời, chẳng biết nen lam gi bây giờ?! ben tai Tôi, những lời nói ai oán, vô vọng của không ít các đồng đội, cang lam Tôi kinh hoang, họ đa vội va cất cánh, rời bỏ đất nước bay ra biển, với hy vọng sẽ tim được nơi trú ẩn trong giờ ?ịnh Mệnh nay, nhưng... họ đa không tim thấy nơi chốn như họ đa được nghe, hoặc mong đợi (có thể Hạm ?ội 7 đa di chuyển xuống hướng Nam???...)?!

    Phi cơ của họ bị hết xăng, rơi xuống biển như những quan tai bay, mang theo những chiến sĩ Không Quân xấu số! Trước khi biết minh sẽ chết, họ vẫn con để lại những lời nhân bản:?!

    Chúng Tôi chỉ còn vài phút xăng nữa thôi! nhưng chẳng thấy Hang Không Mẫu Hạm nao cả! các bạn Không Quân nếu nghe được chúng tôi, xin đừng nhắm hướng ra Biển nữa!.. chúng tôi hết xăng rồi!... vĩnh biệt các bạn!... VĨNH BIỆT!?!

    (Cho đến nay, nhất là vào những ngày 30 tháng 4 hàng năm. những lời nói tuyệt vọng đó vẫn khiến Tôi bồi hồi tấc dạ...)?!

    Sau cùng, Tôi cũng phải hạ cánh, về đáp sân bay Trà Nóc, Tôi trở vao phong Hanh Quân của Phi ?oan 116, mong tim hiểu them tinh hinh... anh em mỗi người mỗi ư kiến, nhưng tựu trung “Hồn ai nấy giữ” thôi! Tôi quyết định ra lại phi đạo, tự minh đổ xăng lấy, đổ nhớt lấy cho máy bay của minh, rồi mở máy để định di chuyển... nhưng bất ngờ, ngay trước máy bay của Tôi la anh Trần Minh ?iền (cung phi đoan), ben cạnh la vợ va hai đứa con của anh! gia đinh anh với phương tiện bằng chiếc Vespa mau xanh của anh đa chạy ngay lại phi cơ của Tôi lúc nao ma Tôi không biết nữa? Anh ?iền khẩn khoản xin Tôi nhường máy bay cho anh?! Mới đầu Tôi cũng ngạc nhien va tự nghĩ: nhường cho anh rồi Tôi thi sao đây? nhưng khi nhin xuống, thấy chị ?iền vô cung hoảng hốt, các con anh thi thật ngây thơ, chẳng biết gi, thản nhien nhin Tôi... long Tôi tự dưng như se lại, va... Tôi lặng lẽ xuống phi cơ, ra dấu tay đồng ư..!??!

    Anh điền vội va đưa vợ còn lên tàu, rồi vội vang nổ máy di chuyển... quen cả chao va cám Ơn Tôi? Long Tôi bấy giờ thật thanh thản (kỳ thật!), Tôi đứng nhin va chờ cho phi cơ của anh ?iền cất cánh an toan rồi mới đi về khu Cư Xá Sĩ Quan độc Thân, Tại đây Tôi cũng thấy mọi người đang tim phương cách thoát thân cho minh, Phong của Tôi đối diện với phong của Tư lệnh Sư ?oan 4 Không Quân, Tôi thấy Tướng cũng đang rời phòng cùng vài người nữa, họ leo len xe hơi va chạy về phía đậu phi cơ, Tôi biết Tướng cũng đang tim cách thoát chạy khỏi nơi nguy hiểm nay!?!

    Như bị cuốn hút vào hanh động của Tướng, Tôi lại hối hả trở len Phong Hanh Quân Phi ?oan, tại đây, Tôi gặp anh Le Xuân Phong (cung phi đội) Tôi ben rủ anh cung ra phi đạo kiếm xem con có phi cơ không, rồi mới tính.?!

    Ra đến phi đạo, chúng tôi gặp anh Vũ Hiếu Mưu, anh vừa trở về từ Biệt ?ội ở Ca Mau, anh thản nhien nói:?!

    - Tôi không cần phi cơ nữa đâu, các anh lấy đi đi, Tôi kiếm vợ con Tôi đa, sống chết ben nhau thôi.!?!

    Tôi cảm phục va ngưỡng mộ người đồng đội quả cảm va khí tiết nay...?!

    Tôi va anh Phong phải tự đi đổ xăng, châm nhớt cẩn thận, rồi mới leo len phi cơ, Tôi di chuyển ra đến taxiway la tống ga cất cánh liền, khi lấy đủ cao độ, Tôi nhắm hướng Thái Lan trực chỉ, Bay khoảng một tiếng, chẳng ai nói với ai điều gi, vi thật sự lúc đó đầu óc trỗng rỗng, Bỗng Phong đề nghị:?!

    - Tao theo đạo Hoa Hảo như may biết đấy? Hay tụi minh trở lại Long Xuyen, hợp cung các chiến sĩ Hoa Hảo tiếp tục chiến đấu tieu diệt quân thu?...?!

    Nghe vậy, Tôi đồng ý ngay, vì trong thâm tâm vẫn mong muốn được chiến đấu đến giây phút cuối cung của đời minh, nếu con lực lượng, con người chỉ huy, thi cho du ở bất cứ cương vị nao tôi cũng chấp thuận...

    Tôi quay đầu phi cơ, nhắm hướng Long Xuyên, làm theo đề nghị của anh Phong, va cũng chính tại nơi đây, định mệnh đa run rủi cho Tôi gặp lại được Trung, người bạn thân nhất của Tôi! được con nhin nhau lần cuối, va chứng kiến những giây phút sau cung của cuộc đời bạn minh!!!

    Khi Tôi đáp, Tôi và Phong đa thấy một chiếc phi cơ A37 nằm trên cỏ ben cạnh cuối phi đạo, hỏi ra mới biết: anh Thọ (trước ở phi đoan 116 rồi qua phi đoan A37 ben cạnh) va vai người nữa, cung phi đoan đa len phi cơ để đi Thái Lan, nhưng cất cánh mới hay phi cơ không con xăng, đanh đáp khẩn cấp xuống Long Xuyen, phi trường Long Xuyen nhỏ va ngắn thế ma đáp chỉ ra cỏ la may phước lắm rồi?!

    Tại phi trường Long Xuyên Tôi cũng gặp lại anh Hà Duy Thăng cung phi đoan với Tôi, (mọi người thường hay gọi anh la; Cụ Thăng) Anh Thăng va anh Phan Thế Phiệt bay ngang qua đây, thấy có anh em Không Quân nen đáp xuống để xem tinh hinh ra sao? hai anh đa cẩn thận mang theo một Can Xăng dự phong để sẵn tren phi cơ, trong lúc mọi người tham khảo ư kiến thi anh Thăng đa lặng lẽ tự quyết định cất cánh ra đi, anh Phiệt ở lại với chúng tôi. Nghe đâu anh Thăng hiện nay ở ben Nhật thi phải?

    Tôi cũng có thấy vai anh bên phi đoàn 122, điển hinh như anh Hồ Danh Lịch, mọi người con đang ban tán ngay tại bai đậu máy bay, thi thấy có một chiếc L19 hạ cánh, phi cơ vao bai đậu, Tôi nhận ngay ra la phi hanh đoan Trung va Hiệp, vừa thấy Tôi, anh Hiệp mừng quá la lớn:

    - Anh Trung trúng đạn rồi anh Trường ơi!

    Tôi giật bắn người, nghe buốt lạnh sống lưng, vội lao tới sát cửa phi cơ, nhin vao ghế sau, thấy Trung đang ngồi, đầu ngả về phía sau...

    Hiệp con nói và giải thích nhiều nữa, nhưng Tôi chẳng con nghe được lời gi của Hiệp cả, đầu óc Tôi như vỡ toang ra, khi thấy bạn minh bất động.

    đợi Hiệp mở cửa nhảy xuống khỏi phi cơ, Tôi đẩy ghế ngồi của Hiệp ra sát phía trước, rồi cẩn thận kiểm soát khắp người Trung, Trung chỉ bị duy nhất một vien đạn, chính vien đạn oan nghiệt nay đa xuyen qua nón bay, đi thẳng vao đỉnh đầu trong lúc phi cơ đang cất cánh lấy cao độ... Trung ngồi bất động, mắt dại đi, như đang hướng nhin vao coi hư vô nao đó... Tôi sờ ngực anh, tim vẫn con đập, anh đang thoi thóp thở, nhưng lặng yen không nói được!

    Trời hỡi, người bạn thân nhất đời của Tôi trong quân ngũ đấy!

    Ôi! gặp lại nhau trong giờ phút cuối cung của vận nước, sao anh chẳng nói với Tôi được lời gi? Tại sao Việt Cộng bắn như mưa vao máy bay, ma chỉ có một vien đạn trúng được anh? va đa trúng ngay Tử Huyệt??? ?ầu óc Tôi rối bời với muôn van thắc mắc, va xúc động... Tôi tháo sợi dây chuyền bằng vang nơi cổ anh, rồi ghé sát vao tai anh, vừa nói trong khi hai hang nước mắt tuôn trao:

    - Trung ơi! may có nghe Tao nói không? Tao mong mày nghe được? Tao giữ tín vật nay, bằng mọi giá Tao sẽ đưa lại cho gia đinh may! cố ma giữ mạng sống, may con vợ con, con gia đinh, con những người thân va bạn be nữa? ma nhất la may con có Tao! Trung ơi? may phải sống! biết không? may phải sống!!!

    Tôi nhờ mấy người bạn đứng cạnh phụ Tôi đem Trung đặt nằm tren một chiếc xe hơi đậu gần đó, Tôi hối anh Hiệp đưa gấp Trung vao Bệnh Viện, Tôi sẽ vao sau, vi cũng vừa có một phi cơ L19 đâm nhao xuống đất, khoảng đầu phi đạo hướng phía sông Hậu Giang, chiếc L19 đó của phi đoan 122, phi hanh đoan la anh Thận va anh Tấn, anh Thận chết liền tại chỗ, con anh Tấn bị gay xương sống, tuy không chết, nhưng tan tật suốt đời... hiện nay vẫn con kẹt lại tại Việt Nam, vợ chồng qua những ma chiết đầy phong ba va bao táp của cuộc sống vẫn thắm đượm tinh nồng, Vợ anh thật la người đan ba Việt Nam đức hạnh, đẹp nết, đẹp tinh...

    Khi Tôi vao nha thương... người ta đa đem Trung xuống nha xác, Họ đặt Trung nằm tren một chiếc băng ca, để dưới đất. Trung vẫn con mặc bộ đồ bay mau xám, Mắt mở trừng trừng, chất chứa bao nỗi oan khien, nghiệt nga, Tôi ngồi xuống ben anh, lặng yen nhin bạn, ma long đau ruột thắt, đầu óc menh mông, Thời gian như ngừng lại, cảnh vật xung quanh lặng yen như để tang cho tinh bạn của hai đứa Tôi!

    Rất lâu sau, Tôi đưa tay vuốt mắt anh, nhưng mắt anh vẫn mở, trừng trừng nhin tôi sững sờ, chắc anh con muốn Tôi lam một chuyện gi đây? Tôi linh cảm như vậy? (sau nay, khi Tôi về Sai Gon báo tin để gia đinh anh xuống nhận xác anh mang về chôn cất, vợ anh đa vuốt mắt anh, lúc đó anh mối vĩnh viễn khép mắt lại)

    Ngồi ben xác bạn, Tôi thầm nói với anh những lời sau cùng:

    - Trung ơi! Tao đạo Phật, May đạo Thien chúa, thôi th&ihrave; mong sao cho Phật va Chúa cung đón may về. ?ừng “them” lam kiếp người nữa? thảm quá! may có khôn thieng phu hộ cho Tao tim được gia đinh may để báo tin, va cho gia đinh may kịp xuống đưa may về nha, chôn cất tử tế nha Trung? (xưa nay, anh vẫn thường nghe lời Tôi, va lần nay anh đa phu hộ cho Tôi được tron lời hứa).

    Đêm đó Tôi chia tay với Lê xuân Phong, mỗi người mỗi ngả, sau nay có gặp lại anh ở Cali nhưng vai năm sau, Tôi đa nghe tin anh Mất tại Việt Nam trong dịp về thăm gia đinh. Tôi va Phong khi xưa đa không thực hiện được ước nguyện của minh, vi chúng tôi không ro các cánh quân của Hoa Hảo di chuyển đi đâu? ma không sao lien lạc được, hơn nữa, Tôi con phải thực thi lời hứa với Trung: lam sao cho Trung được Mồ yen mả đẹp!

    Tôi ngủ lại Long Xuyên một đem, sáng hôm sau, Tôi mua vé xe đo về SaiGon, tren đường đi, Tôi thấy mấy “trự” mặt trận giải phóng, tay lăm lăm súng, chặn xét mọi xe đo qua lại. Thực sự, Tôi cũng e ngại cho tinh cảnh minh hiện tại, nhưng biết lam sao hơn, đanh phó mặc cho định mệnh, nhưng nếu phải chết vi mấy đứa giải phóng mặt búng ra sữa nay, thi thật la “uổng đời minh”!

    Có một điều rất lạ, la mỗi lần xe đo bị chận lại xét hỏi, lũ giải phóng con nít, khám xét nhiều người, có người bị bắt xuống xe, va giữ lại... nhưng hinh như chúng không nhin thấy Tôi, nen Tôi chẳng bị hoạch họe hay xét hỏi gi, suốt đường đi. (Kể cũng lạ lung thật!)

    Xe đến thanh phố Mỹ Tho, thi hanh khách phải chuyển xe khác mới về Sai Gon được, thấy Trời cũng đa nhá nhem tối, Tôi ngại nen không muốn tiếp tục đi nữa, lội bộ vao khách sạn Minh Cảnh thue phong ngủ qua đem. Sáng ra, Việt Cộng (loại ăn theo - người đương thời gọi la Việt Cộng 30 tháng 4) khám xét Khách sạn, chúng bắt Tôi vao khám để thẩm tra, Tôi nói dối tỉnh bơ, vậy ma chúng tin, thả Tôi ra! (kể cũng lạ lung thật!)

    Vừa thoát ra khỏi khám dường, Tôi liền ra ngay bến xe đo để đón xe về Sai Gon, xe chạy qua Lương Hoa Lạc (nha bố mẹ vợ Tôi), vi trước đây chỗ nay la trạm giao lien của VC nen Tôi cũng “ớn”, nghĩ chẳng nen vao, tuy linh cảm có thể vợ con Tôi đang ở đấy?... xe chạy tới Tân An, tất cả các xe đo đều bị dồn cục, Việt Cộng kiểm tra gắt gao để chận bắt những người chúng tinh nghi? Tôi dốc hết cả tiền nong trong túi, dưa cho một người chạy xe Honda, năn nỉ họ cho Tôi Về Sai Gon, Anh ta đồng ư, thế la Tôi về được nha cha mẹ Tôi an toan (Hú hồn!)

    Tôi tự nghĩ, nhờ Trời hay nhờ Trung phu hộ đây? mà qua bao nhieu cửa ải nguy hiểm vẫn an lanh trở về nha cha mẹ được???

    Mẹ mở cửa đón Tôi vào, rưng rưng giọt lệ nói:

    - Con về là mừng rồi, vào đi con?

    Qua phong khách, tới phong ăn, Tôi ngạc nhiên khi thấy cha mẹ anh em con đầy đủ, chỉ thiếu có anh Ba tôi đa di tản qua Mỹ, bằng máy bay cung với gia đinh ben vợ, vi Ba vợ anh la Phụ tá Tổng Trưởng Chieu Hồi nen được ưu tien di tản?)

    Lúc đó Tôi tự nhiên thấy thật ái ngại và xấu hổ, minh la Phi Công ma chẳng giúp được gi cho gia đinh, cứ mải me chiến đấu, bỏ hẳn cả người thân, gặp khi Quốc Biến như thế nay cả nha bị bỏ lại, chẳng hiểu rồi đây sẽ ra sao???

    Ba mẹ nhin Tôi, hai người như thấu hiểu được tâm trạng của con, nen không hỏi vi sao Tôi lại xuất hiện ở nha lúc nay?!

    Cả nhà đang ăn cơm, Mẹ giục Tôi rửa tay, rửa mặt, rồi ăn luôn một thể, Ba ôn tồn dặn do:

    - Binh tĩnh, lạc quan, và phải biết thương minh hơn nữa, tuy cơ ứng biến, con người có số cả, từ từ rồi giải quyết...

    Trong bữa ăn, Tôi có đề cập đến Trung, và kể ro đầu đuôi câu chuyện, Ba mẹ biết được quan hệ giữa hai đứa tôi, nen khuyến khích Tôi hay mau chóng cho gia đinh Trung ro, Tôi vâng lời, va lấy xe đến nha cha mẹ Trung... cả nha Trung vô cung ngạc nhien thấy Tôi xuất hiện tối như vậy. Thật khó khăn lắm Tôi mới mở đầu được câu chuyện phải nói, Tôi trinh bay cặn kẽ mọi việc, va đốc thúc mọi người xuống Long Xuyen liền để kịp nhận xác Trung.

    Gia đinh Trung rất tháo vát và tài tình, đa đem xác Trung từ Long Xuyen về Sai Gon trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nay!

    Đám tang của Trung được tổ chức rất chu đáo, anh được an táng tại một nghĩa trang gần nha. Vợ Tôi trở về que nha, hái len một cần xé trái cây đủ loại, mang đến để cúng viếng Trung, va cũng để mọi người dự đám tang Trung giải khát. Tôi thật sự mất Trung từ đây!

    Có lẽ, anh đa phu hộ cho Tôi rất nhiều, để Tôi mới thoát qua được bao khó khăn, an toan về đến Sai Gon, báo tin kịp thời cho gia đinh anh, đưa anh về an nghỉ ở nghĩa trang gần nha như Tôi đa kể tren?!

    Lúc sinh tiền, Trung va Tôi hay ngheu ngao hát bài: “Hát cho một người nằm xuống”. Bây giờ Âm dương cách trở, Tôi sẽ chẳng bao giờ hát bai nay nữa, vi trong Tôi, anh vẫn sống, trưởng cửu như lời của một danh tướng:

    “Người lính không bao giờ chết, họ chỉ lạt phai theo thời gian”

    Định mệnh đa khiến Tôi quyết định quay trở lại đáp Long Xuyen, để được gặp Trung lần cuối, Ôi! ngay 30 tháng 4 oan nghiệt, đa khiến Tôi mang hai cái tang lớn: tang cho ?ất nước va tang cho người bạn thân thiết nhất của Tôi...

    Với Tổ quốc, Trung đa hoàn thành nhiệm vụ ma anh đa lanh nhận, với gia đinh, vợ con, anh thật sự la một người chồng gương mẫu, một người cha kieu hung, đảm lược, sáng danh cho dong họ anh. Với bạn be, anh đa la một tấm gương sáng, la một người để chúng tôi noi theo. Va với bản thân Tôi, Tinh Bạn vẫn muôn đời trong sáng.

    Anh đa hy sinh để chúng ta được sống, tồn tại đến bây giờ, nhưng thực tế, mấy ai biết được? Tuy vậy,những việc lam của anh để lại, chính la những ánh đuốc sáng ngời, soi rọi những bước đường tim lại Que Hương yeu dấu của chúng ta!

    Nhưng đau đớn thay, sự trở lại đáp Long Xuyên của Tôi ngay ấy, đa dẫn đến hang loạt Những khổ nạn ma Tôi phải gánh chịu:

    Trước tiên, chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của người bạn chí thân trong quân ngũ. Tiếp nối, la bản thân bị đi Tập Trung Cải Tạo tại miền Bắc Việt Nam. Sau cùng là: hứng chịu cảnh Gia đinh Nát Tan., vợ Tôi tren đường vượt Biển, đa bị bọn Khốn kiếp Thái Lan, ham hại, thi thể bị chặt ra từng khúc (như lời báo mộng của nang cho Mẹ va con được biết cung một ngay)

    Đau thương tiếp nối đau thương, chồng chất lên người Tôi, nhưng giờ đây chỉ con la kỷ niệm, ma đa la kỷ niệm thi du vui hay buồn Tôi cũng luôn trân quí...

    Cali những ngay nhớ về 30 tháng 4 đen,

    NGUYỄN VIẾT TRƯỜNG

    (Viết cho Trung, cho Tôi, và những chiến sĩ năm xưa)

    *********************************************

    Nơi Chùm thơ để lại...



    Nguyễn Mạnh Trinh

    Có những nơi chốn, thanh những ten tuổi của ký ức chẳng thể nao quen. Những địa danh, nhắc lại một thời. Những thời gian, ghi dấu lại những thăng trầm của cuộc đời, những cột mốc đánh dấu hanh trinh nhân sinh. Với tôi, có những nơi, nhắc lại một thời em đềm. Nhưng cũng có chốn, nhắc lại la cả một trời đắng cay chua xót. Miếng ngon nhớ lâu, đon đau nhớ đời, những cơn ác mộng ấy vẫn có lúc con ám ảnh trong tiềm thức, có những lúc hiện về, đứt ruột. Thời gian ấy, tôi vừa được trở về sau những năm tháng bị tu. (Tôi thấy cái chữ cải tạo con hiền lanh quá, ma phải gọi la trại trừng giới mới đầy đủ ư nghĩa). Về Sai Gon, không có hộ khẩu, phải bắt buộc hồi hương hoặc đi vung kinh tế mới. Hồi hương thi tôi lam gi có qu để ma về, thôi đanh chọn một chỗ nao đó, gần gần Sai Gon để đi “kinh tế mới”. Du biết rằng, đi như vậy la chọn một phương cách không tốt cho minh va cho cái ư tưởng muốn vượt bien lúc nao cũng bừng bừng trong tâm trong óc. Nhưng ở lại Sai Gon cũng không được, công an va phường, khóm mỗi ngay lam phiền hăm dọa. Cái chuyện bị bắt lại la một chuyện khả dĩ...
    Nơi tôi đi đến la xa Tân Thanh, thuộc Thủ Thừa, Long An, tuy cách Sai Gon chỉ khoảng có 50 cây số đường chim bay nhưng la một góc trời tăm tối hoang vu. Nằm sát với ?ồng Tháp Mười, nơi ma xưa kia người Pháp gọi la “?ồng cỏ lác” (Plains des Jonds) va chỗ đó thien nhien con hiểm ác với chướng khí, với muỗi đỉa, với bệnh tật. Từ Sai Gon đón xe đo xuống Thủ Thừa. Rồi từ đây đến Tân Thanh, không có đường bộ, chỉ có đường thủy, một chuyến đo đi va một chuyến trở về. Dọc theo ben bờ kinh, la những vung kinh tế mới của những người bị đánh tư sản người Hoa ở quận 5 Chợ Lớn bị đầy ải xuống đây. Hoặc la những nông trại của bộ đội, của thanh nien xung phong, vừa khai hoang vừa lam công việc bien phong. Con tau đo đi từ bến, qua những khu của người Hoa, đến chỗ nông hội xa ma tôi cư ngụ rồi vao sâu hơn, những nơi ma thanh nien xung phong hoặc bộ đội đóng rồi trở về.

    Con kinh ấy, nước đục đục mau phen la con đường giao thông duy nhất trong vung. Tôi đến Tân Thanh bằng một chuyến đo với những cơn mưa nắng bất chợt. Buổi sáng khi nắng vừa hửng tren mặt nước, khi tiếng coi của chuyến đo gọi khách tu tu tren kinh nghe buồn nao nuột.

    Tâm trạng của một kẻ đi đầy cũng the thảm đến mức nay thôi. Cũng liều nhắm mắt đưa chân, gặp nạn thi từ từ ma né, sá gi chuyện thâm sơn cung cốc, muỗi keu như sáo thổi, đỉa lền như bánh canh, cỏ mọc thanh tinh, rắn gầm biết gáy. đi, rồi sẽ phải kiếm cách trở về. Con tau đo vừa đi được một lúc thi trời nổi cơn dông. Mưa mu mịt. Gió thốc loạn cuồng. Hinh như, đất va trời cũng lien cảm va chia sớt nỗi buồn với tôi. Rồi cuồng nộ một lúc, trời lại xanh va nắng lại len man mác tren cảnh vật...

    Bai thơ đa viết trong trí nhớ, từ chuyến đo đi vào vung lưu đầy, vao coi của địa ngục hoang vu menh mông. ?a lâu, bây giờ lom bom trong trí nhớ: “Thôi đa hết chiến tranh
    Sao chẳng về cố thổ
    Ma chân bước đi quanh
    Hai bờ kinh cơn lũ
    Chuyến đo đưa ta tới
    Những hắt hiu chạnh long
    Nơi vung kinh tế mới
    Mồ hôi sẽ như sông
    Thầm trong tâm câu hỏi
    Sao lưu lạc chốn nay
    Đỏ mặt trời nắng chói
    Chợt vô vọng tầm tay
    Thân không làm lính thú
    Thời gió bụi đieu linh
    Bây giờ theo cơn lũ
    Trôi nổi đợt sóng ghềnh
    ôi tiếng coi như thét
    Mu mặt nước bao la
    Chợt vẫy tay vĩnh biệt
    Xa xưa mắt nhạt nhoa
    Thân chẳng làm lính thú
    Sao lạ bước chốn nay
    Đời tạm cư tạm ngụ
    Buốt lạnh hạt mưa bay... ”
    Bài thơ ấy, cách nay hai mươi sáu năm, đem hôm qua nhớ lại khi gặp một người bạn cung cảnh ngộ thời đó. ?úng la câu tha hương ngộ cố tri, chúng tôi nói với nhau về những chuyện “hồi ấy”, những nỗi niềm của những người lính thua trận phải giả dại cho qua ải. Lạ một điều, cả hai đứa tôi đều có ấn tượng rất sâu về những chuyến tau đo, với âm thanh tiếng máy lam khua động cả buổi trưa em ắng va tiếng coi có lúc như tiếng than, có lúc như tiếng gọi để thúc đẩy chúng tôi phải chọn một con đường nao rời bỏ được chốn nay.

    Dọc theo con kinh, có những đơn vị thanh niên xung phong lam việc va quân số hinh như nữ đông hơn nam. Do đó, tren chuyến đo cũng có rất nhiều đôi mắt ngây thơ, có những bím tóc lắc lư theo cơn gió va cũng có những bộ đồng phục thanh nien xung phong nữ có một chút đỏm dáng nao đó, du có khi la ban tay đầy gân vi lao động nặng, du gương mặt bị đen đúa vi nắng mưa dưới nếp mũ tai beo. Du sao, cũng la những bông hoa để lam đỡ thảm thiết hơn những tháng ngay lụn tan như sắp chết. Có lúc, tôi lam thơ vu vơ, cho một ánh mắt nao thoáng qua, cho một hinh dáng nữ nao, lang đang sương khói. Lúc ấy, tuổi vừa hơn ba mươi, nen long nhiều xúc động, du, chỉ la một vai giây phút thoáng qua. Nếu không lam thơ, nếu không mơ mộng lang mạn, dễ gi đứng vững nổi đôi chân tren vũng sinh chát chua phen, của mau đất đốm vang mau rỉ sắt cằn khô mọi sinh lực. Thơ, la những con đường đi để khác hơn những liếp thơm trung trung, những buổi sáng mu mịt, những buổi trưa nắng như một biển lửa mau vang tươi nhưng ngột ngạt. Không gian chết va thời gian cũng thở nuối ngáp ngáp theo...

    “Qua kinh Tân Thủy nắng lên
    đo mu sương để ướt mềm tóc ai
    Mắt trôi beo nước dặm dai
    Hỏi ai mấy nẻo mốt mai có cung?
    Mồ hôi đọng muối ngang lưng
    Cỏ bờ vá được lạnh lung hồn tôi
    Cây đan đứt một giây rồi
    Nen bai hát cũ đanh thôi nhắc thầm
    Nước phen con cá trầm ngâm
    Muốn gửi em nụ hoa vang ngút xanh
    Gốc tram rong cuộn đoạn đanh
    Củi em hong được nắng hanh mấy trời
    Sáng nay soi nước nhớ người
    Thấy hoang vu một khuôn trời đa rieng
    Tren kinh nắng dột mấy miền
    Un ai bếp trấu nhớ quen gọi hoai.”

    Chúng tôi kể cho nhau nghe những kỷ niệm, nhắc về những cuộc sống cũ thời xa xưa ấy. Vi thuộc ?ồng Tháp Mười, đất bị phen nặng nen chẳng có một thứ cây trồng nao chịu nổi. Khoai lang la thứ cây mạnh mẽ nhất ma ở đây cũng không thể ngoi len nổi. Khoai mi cắm ngọn hom xuống len những cây tong teo không ra hinh thu cây cỏ gi cả. Chỉ có một thứ chịu được la thơm với những liếp bề ngang gần thước rưỡi bề dai cả trăm thước. Ngút ngan la những liếp thơm, trải dai ra va ghe gớm nhất la cái nắng, nắng hun hút đốt ửng da thịt đen sạm mặt may. Mua nắng, nước ngọt la vang. Những ghe đổi nước đa mang một thứ cần yếu cho dân vung nay. Trong khi nước phen menh mông ma con người lại bỏng khát chờ mong từng giọt nước ngọt. Sinh kế ở đây thi len liếp thơm cho nông trường chỉ la công việc kiểu u ơ ví dầu, lam cho lấy có, chứ nếu tính công điểm thi chỉ có nước hớp không khí cho no ma thôi. Nếu muốn đủ tiền mua gạo ăn thi phải liều minh vô đồng đốn củi tram chở về chợ Tân An bán. ?i theo triều con nước từ hai ba giờ sáng, vao ?ồng Tháp Mười chặt rễ tram chất len xuồng đến hai ba giờ trưa theo con nước trở về. Cây tram có một điều rất lạ la rễ mọc ngược tren sinh va các tiều phu bất đắc dĩ (va cũng bất hợp pháp nữa) lội xuống chặt lam củi. Nếu may mắn trót lọt, ngay ấy được chừng món tiền mua gạo đủ ăn cho vai ngay. Nhưng nếu xui xẻo gặp du kích thi không những củi bị tịch thu ma ghe xuồng, cưa búa, những phương tiện lam củi cũng bị xung công luôn. Va vai ngay sau lại thấy các chức sắc trong xa dạm bán xuồng, con du kích cắc ké thi dạm bán cưa, búa. Rồi, dân mua lại, rồi bị tịch thu, cứ thế ma tái diễn. ?ời sống, ở đó, như thời mạt pháp, nhin quanh toan những tối tăm, những bất công chồng chất...

    Cũng may, con có những người chung quanh, từ tứ xứ về đây. Có những cô tiểu thư tuy buổi cung đường nhưng vẫn mang vóc dáng cũ. Vẫn có tren chuyến đo những bộ quần áo du nước phen có lam lem luốc nhưng vẫn con nét đẹp sang. Vẫn con những ngón tay búp măng e ấp giữ tren mái tóc. Những gia đinh bị cải tạo tư sản ép buộc len đây sinh sống dọc theo hai bờ kinh nen những chuyến tau đo đông người đa lam bớt đi cái vẻ cô tịch của một miền sơn cung thủy tận. Va có những bóng hồng thấp thoáng hinh như đa lam bao nhieu chang ngơ ngẩn bâng khuâng...

    Những cô thanh niên xung phong từ Sai Gon bị điều động len đây, du với bộ đồng phục te tua, du với chiếc mũ tai beo que mua nhưng vẫn con vóc dáng của người thanh thị. Va một số khá đông la con em của những người lính VNCH chúng tôi, có cả một số em la những sinh vien học sinh nữa. Tôi đa gặp nhiều em khi ngồi tren tau đo hoặc chờ mua vé xe tâm sự la cha em đang bị cải tạo. Hoặc có những em, với khuôn mặt sáng sủa đọc những bai thơ với vẻ ngây ngất vô cung. Du tren tay các em cầm những tập thơ Tố Hữu, thơ Hồ Chí Minh,... nhưng lại thuộc thơ va đọc những bai thơ Nguyen Sa, Hoang Anh Tuấn, những bai thơ của trời đất yeu nhau, của ngọt ngao vị ô mai thấm thía đầu đời...

    Ôi! Những người ở đó, của một thời lận đận, của những cơn lụt trắng đồng, của những ngay giáp hạt đói kém, của một thời ngăn sông cấm chợ, một thời ma “cây cột đen cũng muốn đoi đi vượt biển tim tự do.” Va, chúng tôi đa sống ở đó, du chỉ la một thời gian ngắn nhưng cũng đủ đau đớn cho một nỗi niềm.

    Có, một bai thơ viết về cơn lụt, của ngày nào xa lắm tôi lam trong khi đang đứng tren bờ bao mong manh nghe nước sói mạnh dưới chân minh, nghe long sũng ướt những nỗi đau lạnh buốt theo từng cơn gió thốc. Mưa, những hạt mưa rơi trong tôi. Nước, những ứ tran từ thien cổ dội về. Tâm tư minh, có lúc te dại cảm giác, để thấy những bai thơ la khúc kinh nguyện cầu, để nỗi khổ nhọc mất đi, để tin tưởng rằng vẫn có trời đất, vẫn có công đạo cho người lương thiện.

    “Nước tran dâng từ trong đồng Tháp
    Kinh Thủ Thừa bờ bai menh mang
    Ôi đời ta loi ngoi mưa tạt
    Tầm mắt chim bóng tối bàng hoàng
    Chân vẫn đứng trên sinh ngóng gió
    Ở chỗ nay thiên địa phân vân
    Ở chỗ nay tâm tư cuồng nộ
    Có phải ta đang sống dương trần?
    Tiếng gọi đo buốt vang buổi sớm
    Em áo bay ta lụa cơn mơ
    Hay tương tư mắt nai vừa chớm
    đa phũ phang băm vụn tuổi thơ
    Nước tràn dâng lòng ta cơn sóng
    Tỉnh hay me ta hỏi một đời
    Nắng đỏ trời mây xanh lồng lộng
    Sao u trầm thủy tận bèo trôi
    Tiếng gọi đo bînh minh ướt đẫm
    Mu lan sương đôi mắt ai cay
    Nhin theo người dưng không ngơ ngẩn,br> Dòng kinh trôi biền biệt tháng ngày
    Long ướt mềm tả tơi theo lũ
    Gọi ai đây khản tiếng tan hơi
    Ta gọi ta một thời xưa cũ
    Sao âm vang thầm tiếng thở dai...”

    Những bai thơ ấy, bây giờ là kỷ niệm. ?ời sống qua đi, thấm thoát hơn hai mươi sáu năm chắc có nhiều thay đổi. Tôi có đọc một bai báo trong báo Văn Nghệ Trẻ ở trong nước viết về một nông trường gọi ten la “Nông Trường Cô Bé Hai” ở xa Tân Thanh. ?úng la chỗ ma cách nay hai mươi sáu năm tôi đa lưu lạc tới. Thế ma, qua thời gian dai như vậy ma nhắm chẳng có gi thay đổi nhiều. Vẫn bắt đầu phá hoang cải tạo đất, vẫn con lẩn quẩn từ chỗ lam khoán hay quốc doanh, vẫn chưa có đường bộ để vao, va vẫn con những cơn lụt kinh khiếp, những cơn nắng đỏ trời, những khung trời mu mu hoang vu. Tôi ở hải ngoại, lúc nao cũng mong que hương an binh no ấm nen cũng thầm mong những công trinh ấy sẽ thanh công, để người dân ở đó khỏi phải lo gạo cơm những ngay giáp hạt, để con trẻ được đến trường, để đời sống ở đó va Sai Gon không con la một so sánh của tận cung. Du rằng trước đó, trong hơn hai chục năm nhiều nông trường đa giải tán, nhiều khu kinh tế mới đa bỏ hoang...

    Nguyễn Mạnh Trinh

    ***********************

    Vợ Lính Thời Chinh Chiến

    Bàu Trai

    Trong các chị em gái của gia đinh, tôi la đứa con gái nhút nhát nhất. Tôi không thích xem phim chiến tranh, sợ nghe tiếng súng nổ, nen tôi không mong muốn lấy chồng nha binh như phần đông các cô gái khác thích những chang trai trong bộ quân phục oai hung. Có lẽ tôi chịu ảnh hưởng của Ba tôi. Ba tôi la vien chức hanh chánh, ông thường than phiền một số sĩ quan trẻ ngang tang va lái xe ẩu. Một đem khuya sau Tết Mậu Thân năm 1968, chúng tôi nghe tiếng go cửa, Ba tôi cẩn thận đuổi chị em tôi vao phong, đóng cửa kỹ lại. Ông bỏ cây súng nhỏ vào túi quần và ra mở cửa. Một sĩ quan trẻ tuổi mặc rằn ri vào xin cho binh sĩ đóng quân trong khu vườn nha tôi va cho cấp chỉ huy của họ ở tạm trong phong khách. Lúc đó Ba tôi mới yen tâm biết la đơn vị đi hanh quân về đến đây tim chỗ nghỉ quân.

    Lính ở đầy trong khu vườn nhà tôi nhưng không phá phách gì như một số người đồn đai rằng “ lính đóng quân ở nha nao la bắt ga, vịt hoặc phá hư đồ đạc của họ”. Rieng vị sĩ quan ở trong phong khách nhà tôi với cái ghế bố nhà binh nhỏ bé, nằm khiem nhượng ở một góc phong. Cuộc sống gia đinh tôi không có gi thay đổi khi có mặt vị sĩ quan nay. Chúng tôi lịch sự không đi tới lui trong phong khách.

    Ban đem thỉnh thoảng chúng tôi nghe những câu hát vu vơ hoặc vai câu vọng cổ của các người lính trẻ than thở nhớ gia đinh va người yeu. Chúng tôi thông cảm và thương mến họ hơn. Dần dần ba mẹ tôi có cảm tinh với vị sĩ quan chỉ huy. Những lúc rảnh rỗi đến nói chuyện hoặc mời ăn cơm gia đinh. Ông sĩ quan nay mượn phong khách để lam nơi hội họp của bộ chỉ huy, nhờ thế gia đinh tôi quen biết them vai sĩ quan nữa.

    Câu “quân dân như cá nước” là đúng, chúng tôi thân tinh rất mau, có những bữa ăn hoặc những buổi tối ngồi chung để xem ti vi thật vui vẻ. Quan niệm không tốt về nhà binh, cảm giác sợ sệt những người lính chiến trong bộ quân phục rằn ri không con nữa. Cũng nhờ dịp đơn vị dừng quân, tôi đa gặp nha tôi sau nay.

    Anh là một trong các sĩ quan trẻ của đơn vị. Chúng tôi biết nhau qua sự giới thiệu của vị sĩ quan quen thân với gia đinh như đa kể trên. Một thời gian sau chúng tôi thương nhau va anh xin lam đám hỏi sớm đề con len đường đi hành quân. Có lần anh nói, gia đinh hối thúc cưới vợ, nhưng “đời lính tác chiến xa nha, ra đi không chắc có ngay trở lại, cưới vợ chỉ lam khổ cho người đan ba.” Và anh không muốn vướng bận the nhi trong thời lý loạn. Sau đó anh đi hành quân liên tục, thỉnh thoảng tôi chỉ nhận được thư.

    Hơn một năm sau, đơn vị anh về đóng quân tại Bien Hoa gần Sai Gon, đây la dịp tiện lợi để chúng tôi tổ chức đám cưới. Tôi theo chồng về ở căn nha trong trại quân đội. Bây giờ tôi cảm thấy hạnh phúc nhất, ngoai gia đinh cha mẹ thương yeu, tôi con có người chồng tính tình trầm tĩnh, hoa nha với mọi người. Sau những ngay nghỉ phép cưới vợ, anh trở lại cuộc sống nay đây mai đó, anh đi ba bốn tháng mới về một lần hoặc lâu hơn tuy tình hình chiến sự.

    Khi anh chuẩn bị đi hanh quân tôi không hề biết trước nhưng dễ nhận ra ngay. Tôi thấy những binh sĩ lam việc với anh lăng xăng dọn dẹp chuẩn quân trang. Nhưng tôi vẫn mong minh nghĩ lầm. Anh trở về nhà gương mặt đượm nét quan trọng, ít nói với tôi hơn. Bận rộn với giấy tờ, điện thoại va dặn do người nay người kia lien tục. Tôi hiểu anh không có thi giờ để nghĩ đến gia đình.

    Tôi không quấy rầy anh, tôi luôn luôn nhớ lời dạy bảo của ba tôi trước khi tôi đi theo chồng: “Con đừng bao giờ xen vao công việc của chồng con.”

    Ăn cơm tối xong anh tiếp tục chuẩn bị tai liệu. Tôi buồn vi sắp phải xa chồng, không biết làm gi hơn la ngồi sau lưng anh, áp má vao sau lưng anh im lặng. Anh làm việc đến gần nửa đem, xong anh kêu tôi lại ghế salon ngồi, anh dặn do mọi việc ở trong nha, có buồn trở về nha cha mẹ chơi, nhất la phải cất kỹ tờ giấy hôn thú. Tôi hiểu anh muốn ám chỉ điều gi, tôi nghe long te tái. Tôi có bao giờ nghĩ đến mười hai tháng lương tử tuất để thanh góa phụ! Không, tôi chỉ cần chồng tôi.

    Sau đó chúng tôi chỉ ngủ được vài giờ. Ba giờ sáng trong sân trại rần rộ tiếng xe, tiếng nói ồn ao của lính. Trong cảnh lờ mờ tối, tôi nhin ra sân thấy những người lính, lưng đeo ba lô nặng nề, đầu đội nón sắt. Trong số đó sẽ có người không trở lại. Quang cảnh nay trái hẳn với những ngay đại lễ, những người lính trong bộ quân phục thẳng nếp, tay cầm súng đi diễn hành rất đẹp.

    Khi chồng tôi bắt đầu mặc áo giáp, đeo súng ngang hông, lòng tôi tê tái, có một cái gi đó làm cho tôi bất động, chỉ biết nhin anh va im lặng. Sau cung, anh đội nón sắt và đưa tay vỗ vao má tôi nói: “Thôi anh đi”. Anh không có những cử chỉ âu yếm hơn. Những lời từ gia nhiều hơn như những lần anh đi lam việc binh thường hay đi ăn cơm với bạn be. Anh sợ lam tôi khóc. Tôi muốn nói anh cố sớm trở về với em, nhưng cang dặn do cang đau long trong buổi chia tay. Tôi cố gắng không cho nước mắt trao ra.

    Tôi nhìn anh thật kỹ, để hinh ảnh anh in sâu mãi trong l&ograce;ng tôi. Tôi thầm nghĩ anh con trở về không. Không thể chờ xe anh khuất bóng, tôi chạy vội vao giường khóc nức nở. Cảnh nay cứ tái đi tái lại trong cuộc đời lam vợ lính của tôi. Có lần tôi nói với anh, khi đi hành quân cho em biết trước để em chuẩn bị tư tưởng cho đỡ sợ. Nhưng có lẽ vi bí mật quân sự hoặc cuộc hanh quân gấp rút. Mỗi lần nghe có tin đơn vị anh đụng độ lớn tôi chỉ biết vào phong âm thầm cầu nguyện, lo sợ gặp những sĩ quan đến báo tin buồn. Có lúc anh về thăm tôi thinh linh. Mừng rỡ không được kéo dai bao lâu lại nghẹn ngao vì anh ra đi sớm hơn lời hứa. Một buổi chiều anh về và nói chiều mai mới đi. Tôi vui mừng vi trưa mai vợ chồng tôi sẽ có chung buổi cơm với nhau, nhưng đến tối có tiếng điện thoại, anh nghe xong nói với tôi sáng sớm mai anh phải đi. Thế la mất một đem hạnh phúc, chỉ có tiếng than thở va tiếng nức nở của tôi.
    Khi tôi có thai được sáu tháng, lúc đó anh đóng quân tại Bến Tre, anh biết gia đinh tôi có quen thân với ông ba bác sĩ tại Mỹ Tho. Anh hẹn gặp tôi tại đó để anh đến thăm vi từ Bến Tre chỉ qua một cái phà là đến Mỹ Tho. Anh cho biết sẽ ở chơi từ trưa đến chiếu mới đi. Sáng ngay ấy ba tôi chở tôi xuống Mỹ Tho, sẵn ba tôi thăm lại người bạn cũ.

    Tôi gặp anh ngượng ngung mắc cỡ với cái áo bầu khoác ngoai. Tuy là vợ chồng nhưng ít khi sống gần gũi nhau nen đối với anh đôi khi tôi vẫn con e thẹn. Sau khi chúng tôi han huyen được nửa giờ, chúng tôi dung cơm trưa, tuy có mặt ba tôi va hai ông ba bác sĩ nhưng tôi cũng cảm thấy hạnh phúc lắm. Buổi cơm chưa chấm dứt, chồng tôi có máy truyền tin gọi trở về đơn vị, vậy la anh lại đi ngay. Tôi tiếp tục dung cơm, nhưng món ăn trở nen lạt lẽo, dầu ba bác sĩ nấu rất ngon.

    Thương con, ba tôi cáo biệt về SaiGon sau buổi cơm. Tren xe ông nhin tôi và vuốt tóc thông cảm. Một đem tôi đang ngủ bỗng giật minh thức giấc bởi tiếng khóc thảm thiết của ba hang xóm, tôi vội đến cửa sổ nhin ra ngoai để xem chuyện gi xẩy ra. Ben ngoai đem tối yen tĩnh bị đánh tan bởi tiếng khóc của người vợ trẻ vừa được tin chồng tử trận ngoai chiến trường, cung đi hanh quân chung đơn vị với chồng tôi. Chị khóc lóc, keu gao, gọi ten chồng nhưng chồng chị sẽ mai mai không trở về nữa. Tôi trở lại giường nằm nhưng không ngủ được, tôi thương cho người đan ba góa phụ kia va lo sợ cho bản thân minh.

    Sáng hôm sau người vợ trẻ đầu phủ khăn tang, gương mặt xanh xao cung với ba mẹ gia đi lanh xác chồng theo sau hai đứa con khoảng ba, bốn tuổi, đầu chít khăn trắng. Chúng nó vô tư không biết gi, thật ra ba chúng đi hanh quân luôn, ít khi ở nha. Bây giờ không có lời an ủi nao lam chị vơi được nỗi buồn, chỉ mong thời gian sẽ han gắn vết thương long của chị ma thôi.

    Sau nay chị kể, chị nghe tiếng chim cú kêu chiều hôm đó, chị nghĩ có điều xui rồi. Tôi không bao giờ tin dị đoan, tôi không xem bói vi thầy bói nói vui tôi không tin, nói buồn tôi phải bận tâm lo lắng, nhưng bây giờ tôi lại sợ tiếng cú keu.

    Một chị bạn quen, chồng cũng là bạn thân với chồng tôi, nha ở trong cư xá đối diện, với ba đứa con nhỏ. Chồng đi hanh quân không chắc có ngay về, tinh thần của chị ngay cang suy nhược, cộng them những lần thay mặt gia đinh đi dự đám tang quá nhiều bạn be thân thiết bị tử trận. Tinh thần đa sẵn yếu, ngay cang trở nen suy sụp. Lúc ở Việt Nam, bác sĩ phải cho uống thuốc an thần. Sau nay may mắn được di tản qua sống ở Mỹ nhưng rồi cũng không tránh khỏi bệnh nan y Alzheimer, chị hoan toan mất trí, thể xác trông cậy vao người chồng thủy chung, ngay xưa la người chỉ huy chiến trận tai ba, bay giờ biến thanh người y tá tận tụy va hy sinh nhẫn nại cho người vợ tao khang, quen biết từ thuở con nien thiếu.

    Ngày tôi sanh cháu bé, chồng tôi được nghỉ phép, anh ở hẳn trong nha thương với tôi, mặc cho những lời dị nghị của các cô bác theo xưa cho như vậy la không tốt la bị “ mắc phong long ”. Mấy ngay sau tôi rời nha thương, anh được lệnh đi hanh quân tại Campuchia. Nhin anh đi tôi khóc mãi vì nghe tin đồn ở Campuchia thường bị “ Cáp duồn”. Mẹ tôi khuyen “Con mới sanh khóc như thế không tốt đâu ”. Nhưng tôi đâu nao nghĩ đến sức khỏe của tôi, tôi lo cho anh va không muốn con tôi mất cha. Hang ngay bận bịu nuôi con, nghĩ đến anh tôi chỉ biết cầu nguyện.

    Đến năm 1973, chồng tôi chuyển sang làm việc hành chánh, mặc du ở đâu cũng la phục vụ cho nước nha, nhưng anh không thích lắm. Rieng tôi vui vẻ hơn vi đây la dịp mẹ con tôi được sống với anh hang ngay. Tại đây anh vẫn phải đi xuống thăm các quận thường xuyên. đã có các sĩ quan thỉnh thoảng bị chết vi địch phục kích dọc đường, cho nen tôi vẫn tiếp tục lo lắng cho anh. Ngay nay qua ngay khác, mỗi buổi chiều tôi nghe chiếc xe lăn bánh tren con đường đá sỏi vao cổng la tôi biết anh đa binh yen trở về. Có những chiều anh về rất muộn, tôi không yen tâm được, vao phong ngồi bất động âm thầm cầu nguyện.

    Tinh thương đa khiến tôi rất thính tai, tiếng cổng mở cửa từ xa tôi đa nghe được, lúc đó tôi mới thở phao nhẹ nhom, đi ra ôm lấy con va cung nhau ra đón ba nó. Có những đem pháo kích tôi sợ quá, một tay ôm choang lấy con, một tay nắm chặt tay anh, nhưng sau khi đợt pháo kích đầu tiên đa chấm dứt, anh phải vội va từ gia mẹ con tôi để băng qua cửa hông nha đi xuống hầm trung tâm hanh quân, hầu tiện việc chỉ huy yểm trợ các đơn vị đồn trú địa phương.

    Muốn cho chồng luôn được binh yen va tôi bớt đi nỗi lo âu để yen tâm lam việc nội trợ, một hôm tôi đưa cho anh xâu chuỗi ma vị linh mục đỡ đầu đa cho anh ngay rửa tội. Tôi nói “Anh nhớ luôn bỏ xâu chuỗi nay vao túi áo mỗi ngay anh đi lam việc, để có Chúa phu hộ anh và em đỡ lo lắng cho anh.” Tôi biết đan ông tánh không chu đáo lắm nen tôi nói them “Anh thương em hay nhớ lời em dặn.”
    Ngày tháng cứ thế trôi qua, chiến sự càng ngày càng sôi động, cho đến một ngay mẹ con tôi từ gia anh, trở về ở với ngoại, để anh không phải bận tâm gia đinh. Chúng tôi từ gia đời sống gia binh. Lần nay tôi cũng nhin anh rất kỹ va niềm hy vọng gặp lại anh ít hơn. Khi cuộc sống của người vợ lính thời chiến chấm dứt thi những ngay nghiệt nga mới lại bắt đầu.

    30/04/75 đa chấm dứt cuộc đời binh nghiệp của chồng tôi và anh đi tu với mười ba năm “cải tạo”. Rieng tôi, ngoai trách nhiệm nuôi chồng, nuôi con, nỗi lo âu vẫn con va sự mong đợi chồng về mỏi mon hơn. Sau cung, nhờ ơn tren, nha tôi đa trở về. Anh vẫn con giữ xâu chuỗi ngay xưa đa cùng anh sống trong ngục tu với những chỗ bị đứt đa nối lại va rơi mất một hạt.

    Hơn hai mươi năm làm vợ lính thời chiến, 13 năm vợ tu cải tạo của thời binh, la người con gái ở miền que Bau Trai, tôi có lam gi đâu ma suốt đời chỉ sống với nước mắt. Chiến tranh đa cướp mất tuổi thanh xuân của bao nhieu người vợ trẻ. Chỉ con lại Việt Nam, một quê hương đieu linh, một dân tộc bất hạnh triền mien trong chiến tranh va ngheo khó.

    Bàu Trai

    **********************

    Ðêm Chờ Sáng

    Nguyễn Minh Châu

    Ðêm Chờ Sáng và cũng là đem Cuối Cung chấm dứt đời Binh Nghiệp 21 năm của tôi.

    Sau khi bị thương ở Vung I Chiến thuật và được biệt phái qua hanh chánh, tôi lam việc tại quận Dĩ An được 7 năm, về ?ức Hoa 1 năm rồi trở về lại quận Dĩ An đúng một tháng trước ngày miền Nam bị thất thủ. Tinh hinh lúc nầy hết sức là căng thẳng, Quận và Chi khu ráo riết đặt kế hoạch phong thủ chống chiến xa địch. Căn cứ phong thủ của Bộ Chỉ Huy Chi khu la căn cứ cũ của lực lượng ?ại Han rất kien cố, hơn nữa sau Hiệp đinh Paris đầu năm 1973, các đơn vị ?ồng Minh sau khi rút đi đa để lại cho chúng tôi rất nhiều vũ khí đạn dược va gần 100 cây M72 chống chiến xa, do Đại úy Thanh Trưởng Ban 4 Chi Khu ngoại giao xin giữ lại, nen anh em chúng tôi cũng yen tâm. Trước ngay 30/4/75, Đại úy Thanh có nhắc nhở và đề nghị tôi cho phân phối hết đồ quân tiếp vụ cho trại gia binh, tôi đa chấp nhận ư kiến sáng suốt nầy, nếu chúng tôi bị bao vây cũng có lương thực cầm cự được một thời gian. Cựu Đai úy Thanh đa vượt bien sau khi đi tu và gia đinh ông này đang sống tai San Jose.

    Một quyết định khó khăn: Tôi phải ở lại đến giờ phút cuối cung với anh em chiến sĩ va đồng bao.

    Tình hình tại quận con rất yên tịnh, chưa có việc gi xảy ra, chúng tôi chưa bị quân Cộng sản tấn công và pháo kích, nhưng một số chiến sĩ cũng nao núng vi nghe tin chỗ nầy di tản chiến thuật chỗ kia rút quân, người thi mang gia đinh xuống tau kẻ xuống ghe đánh cá ra khơi, va một số người đa được phi cơ Mỹ cho di tản từ phi trường TSN trước đó mấy tuần. Ông ba ngoại mấy cháu của chúng tôi sợ nguy hiểm đến tánh mạng của mấy cháu nhỏ, nen mang hết về Saigon cho tôi rảnh tay lo nhiệm vụ, phần vợ tôi thi nhứt quyết ở lại căn cứ để yểm trợ tinh thần tôi, nên anh em chiến sĩ va đồng bao cũng bớt hoang mang, lo lắng

    Một điều nữa làm cho tôi đắn đo không thể bỏ quận được, vi trong 7 năm tôi được sát cánh làm việc ngày đem với anh em Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Vien chức quận xa ấp va lực lượng CSQG lam việc trong tinh thương mến đậm đa. Các cơ quan và đơn vị hết long làm tron trọng trách nen mấy năm qua tình hình Dĩ An rất yen tịnh, dân chúng sống thanh binh lam ăn phát đạt. Quân được Dân thương mến va khắng khít thật la tinh Dân với Quân như cá với nước. Khi tôi được cấp tren đổi về lại quận cũ, anh em chiến sĩ vui mừng như gặp lại người anh cả đa vắng mặt đi xa mới về, va đồng bao cũng vui vẻ đón nhận tôi như một đứa con biệt ly nay trở về quê cũ, nên tôi xem quận Dĩ An như có mối tinh thiêng liêng gắn liền với đời tôi. Tôi hết long cám ơn những chiến sĩ vàà vien chức va lực lượng CSQG đa hăng say cộng tác với tôi trong nhiều năm. Tôi xin nghieng minh trước những anh linh của những người đa hy sinh vi tổ quốc

    đến này, tôi vẫn con nhớ mai Nghĩa quân Nguyễn Văn Giữ, người cận vệ can đảm đa theo tôi suốt bao nhiêu năm. Vi lúc ấy tôi đi đứng phải chống gậy nen ông đa giúp, đỡ đần tôi những lần nhảy trực thăng hay leo đồi lội suối trong các cuộc hanh quân, ông luôn ben cạnh để bảo vệ tôi.

    Ông đa chết trong trại cải tạo năm 1979 vi bạo bịnh mà không có thuốc chữa. Thỉnh thoảng chúng tôi có gởi qua về gia đinh để đền đáp công ơn ông đa giúp tôi suốt thời gian tôi lam việc tai Dĩ An.

    Tất cả các chiến sĩ địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Viên chức quận, xa, ấp cũng như CSQG đều tuân lệnh Thượng cấp quyết ở lại cố thủ. Nhưng đến đem 29 rạng 30 tháng 4, chúng tôi bị bỏ rơi chới với vi mất lien lạc với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu tỉnh Bien Hoa va không biết phải nhận lệnh nơi đâu. Đông Tây Nam Bắc chẳng con ai yểm trợ, trong khi đó chúng tôi được tin tinh báo la một Trung đoan Cộng sản BV cung chiến xa T54 đa di chuyển từ hướng Tân Uyên tới rừng Co Mi phía Bắc quận Dĩ An rồi dừng lại đấy. Chúng tôi tiến thối lưỡng nan, thôi đanh phải liều quyết tử thủ tới đâu hay đến đó, anh em chúng tôi không biết trông chờ vao ai, nen đanh phó mặc số phận cho Trời định

    Thật là một đem hãi hùng, hồi họp, tất cả từ quan tới lính súng chống chiến xa, súng đại lien và súng cá nhân cầm tay, thức sáng đem chờ địch nơi phong tuyến. Tiếng súng pháo binh va đại bác của chiến xa ta va địch nổ vang dội từ hướng Hậu Nghĩa và căn cứ Sư đoan 25 BB tại Củ Chi. Nhin những ánh sáng hỏa châu chiếu chập chờn một góc trời ở phương Tây, phương đông va phương Bắc, và nhin về hướng Saigon thấy ánh đen phi cơ trực thăng len xuống, chúng tôi đoán la Mỹ đang tiếp tục bốc người của họ di tản, anh em chúng tôi rất nao lòng không biết vận mạng quận Dĩ An nói rieng va vận mạng miền Nam sẽ ra sao? Mong chờ đến sáng rồi sẽ tính. Nhưng vao gần sáng toán quân thám thính ở tiền đồn gọi máy báo về Bộ Chỉ Huy Chi Khu là chiến xa địch đa đổi hướng bọc xa lộ vong đai từ hướng Lái Thieu trực chỉ Saigon

    Gia từ vũ khí trong sự uất hận va tủi nhục

    Sáng hôm sau lúc 10 giờ, tiếng nói Đại Tướng Dương Văn Minh loan báo tren đai phát thanh Saigon ra lệnh tất cả các đơn vị buông súng đầu hàng. Cái tin sét đánh lam cho mọi người từ quan tới lính, cả trại gia binh va dân chúng đều bang hoang rơi lệ. Tôi liền dung máy truyền tin thông báo cho các chiến sĩ va vien chức quận, xa, ấp hủy diệt tất cả tài liệu, hay rời đơn vị va nhiệm sở với những lời chúc lanh cung họ va gia đinh, va nói vai câu gia từ trong nghẹn ngao uất hận, không cầm được nước mắt.

    Sau đó vợ chồng chúng tôi và một số anh em chiến sĩ có gia đinh tại Thủ đô rời căn cứ di chuyển về Sài Gon. Toán di tản của chúng tôi gồm có một xe Jeep, tren xe có tôi, vợ tôi một tai xế va hai cận vệ, một Thiếu úy BCH Chi khu va ?ại úy Vân, Giang đoan trưởng Giang cảnh sông Đồng Nai, tỉnh Bien hoa. Đại úy Vân là em vợ của tôi vi thương chị nên ở lại với chúng tôi trong đem cuối cung. Trưa ngay 29/4/75 theo lịnh của Bộ chỉ huy Giang cảnh, Đại úy Vân cho mấy chiếc tau của ?ại đội Giang cảnh về căn cứ ở Nhà Be nhưng ông ở lại với chúng tôi từ chiều ngay ấy. Nếu ông muốn ra khơi để gặp đệ Thất Hạm đội thi quá dễ dang. Theo sau xe Jeep của tôi con có một chiếc xe GMC va một chiếc Dodge 4x 4 chở các anh em của Bộ chỉ huy Chi Khu đi theo.

    Mới ngày nào khi ra phố hay vào xa ấp gặp gỡ đồng bao, anh em chúng tôi lấy lam hanh diện với dân chúng vi công cuộc binh định lanh thổ được tốt đẹp. Nhờ những công lao nhọc nhằn của anh em chiến sĩ ?ịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Vien chức xa ấp va lực lượng CSQG, nen người dân được vui hưởng cảnh thanh binh trong mấy năm qua.

    Nhưng sáng hôm nay, khi chúng tôi đi ngang qua khu phố chợ, đông đảo đồng bao đứng nhin chúng tôi đi qua, tôi cảm thấy xấu hổ như muốn độn thổ vi nay minh la lính bại trận. Thoáng nhin nét mặt u-buồn của đồng bao tôi biết la họ muốn âm thầm, lặng lẽ tiễn đưa và từ gia chúng tôi ra đi trong sự nghẹn ngao va thương tiếc!

    Ra đến nga ba Cây Lơn và Quốc lộ số 1, toán BCH chúng tôi tháp tung đoan quân di tản của các đơn vị thuộc SĐ18, các đơn vị thuộc Quân Đoàn III gồm Công binh, Pháo binh vv.. kẻ đi xe người đi bộ lũ lượt đi về hướng Gia định. ?ến gần cầu Go Dưa xe Jeep của tôi bị vài tên du kích trong lang bắn một quả B40 nhưng không trúng và rơi nằm ngay giữa đường lộ trước đầu xe. Chú tai tránh quả đạn va phóng ga chạy nhanh cho ra khỏi tầm mắt mấy thằng du kích nầy. Thật buồn! va bực tức, tôi chửi thầm : đồ khốn kiếp! trước đây một ngay chúng bây thấy bóng dáng anh em chiến sĩ chúng tao là chúng bây chạy chết cha! Bây giờ theo lịnh cấp tren chúng tao đa buông súng ma chúng bây hanh động hen hạ như thế. Nếu xe Jeep bị trúng một trái B40 thôi thi chắc chắn chúng tôi bị tieu mạng

    Trên đường di tản từ Quốc lộ số 1 về tới Gia định, chúng tôi gặp thấy xác của những người chiến sĩ Dù và Biệt Động Quân nằm rải rác đó đây lẫn lộn cả những thây của dân cúng có cả phụ nữ va trẻ con, quang cảnh thật vô cùng thê thảm. Khi về đến Chợ Lớn chúng tôi vẫn con nghe lác đác những tiếng súng nổ ở hướng trường đua Phú Thọ của các anh em chiến sĩ Nhảy Du có lẽ tức minh rồi bắn chỉ thien như có vẻ không bằng long tuân lịnh đầu hàng.

    Khi về tới nhà cha mẹ vợ gần hãng Beer ở Chợ Lớn, chúng tôi từ gia các chiến sĩ để ai về nhà nấy. Các anh em khóc sụt sui và hứa hẹn hôm nào sẽ trở lại thăm chúng tôi. Nhưng tôi tự nói trong long : Than ôi! Biết ngay mai sẽ ra sao ???

    Ngày 30/4/1975 đa chấm dứt đời Binh nghiệp của tôi đúng 21 năm, vi ngay nhập ngũ của tôi cũng vào tháng 4 năm 1954.

    Nguyễn Minh Châu

    ***********************

    Bất Khuất

    Hạo Nhiên NGUYỄN TẤN ÍCH

    Tu chuyển trại trên những chiếc xe GMC bịt bung, du rất kín đáo, nhưng dân chúng hai ben quốc lộ vẫn phát hiện được đoan xe chở tu.

    Nhin qua khe hở của tấm bạt phủ xe, tu nhân nhin thấy hai cụ gia giậm chân la khóc, tay vẫy vẫy về hướng đoan xe khiến cho anh em tu xúc động rơi nước mắt. Vai chiếc honda rượt theo cố lượm những mảnh giấy nhắn tin của tu thả rơi đang cuộn bay trong bụi đường. Tu hy vọng những tờ giấy nhắn tin ấy sẽ đến tay thân nhân của họ ở tận các vung Kinh tế mới xa xôi.

    Nha tu mới, nằm sâu trong khu rừng gia. Trại được xây dựng kien cố. Tường thanh bằng gạch xi măng bọc quanh khu nha giam. Tường cao tren hai mét, đầu tường cơi them ba đường dây kẽm gai. Phong giam mái ngói, vách gạch, một cửa ra vao va bốn khung cửa sổ nhỏ. Sáu mươi tu nhân chen chúc trong một diện tích chưa đầy tám mươi mét vuông.Mỗi người có năm tấc bề ngang chia đều tren hai day sạp bằng thân cây nứa đập giập.

    Chính sách giam giữ tù chính trị không thời hạn lại đặt vao thanh phần nguy hiểm của chế độ. Lối hanh xử của công an la trút hận thu bằng những ngón đon vô cung tan độc. Bản nội quy la sợi dây trói chặt tu không con cựa quậy, khắc nghiệt hơn cả thời Bắc thuộc.Tu xây nha giam để nhốt minh, lao động sản xuất đủ mọi nganh nghề để nuôi sống bản thân va nuôi bầy cán bộ cả nước.

    Trong sản xuất, chúng buộc tù phải tăng chỉ tieu từng ngay. Tieu chuẩn phần ăn thi bị giới hạn không cho tu ăn no. Những người từng ở tu qua bốn chế độ: Pháp, Nhật, Quốc gia va Cộng sản, đa so sánh va khẳng quyết rằng: Không có nha tu nao vô nhân đạo bằng nha tu Cộng sản. đói, lạnh, lao động khổ sai va đan áp tinh thần la bốn biện pháp giết người tối độc. ?ức quốc xa tieu diệt dân Do thái tại lo hỏa thieu bằng hơi ngạt, Cộng Sản tieu diệt tu chính trị bằng cách tieu hao sinh lực lần mon. Cái chết đến từ từ, kéo dai sự đau đớn triền mien. Không chết vi mất sức, bệnh tật trong trại giam, cũng chết vi bệnh nan y sau khi ra khỏi tu.

    Một cái Tết thứ tư trong tu ngắn ngủi vô vị xói mon niềm hi vọng được trở về với gia đinh. Cái mốc thời gian ngồi tu mu mu tăm tăm! “Lao động tốt, cải tạo tiến bộ” la tieu chuẩn để xét duyệt tha tu, chẳng khác gi bức tranh vẽ cánh đồng cỏ nhử trước mắt loai ngựa nức long đi tới. Qua Tết, trại bắt đầu khởi công xây chiếc cầu treo nối liền hai bờ sông Côn. Cầu dai gần trăm mét. Vật liệu phần lớn do tu tự chế va góp nhặt. Người đứng ra vẽ kiểu va thiết kế cây cầu la tu nhân Trần Xuân Lộc, một cựu sĩ quan Công binh đa từng tu nghiệp tại Hoa Kỳ. Sáu tháng ròng rã, Lộc miệt mài trong công việc. Chẳng phơi nắng dầm mưa, xông xáo từ nơi nay đến nơi khác cung với một toán tu được tuyển chọn gồm những tay chuyen môn thuộc các nganh lien hệ. Họ lam việc không ngơi nghỉ nhưng thích thú va tự hao. Niềm vui trong công tác nay la Lộc được phục vụ cho người dân địa phương đa mong ước bao đời nay có một cây cầu để qua lại trong mua nước lũ. Cuối cung, công trinh hoan tất mĩ man. Chiếc cầu treo trông khá đẹp mắt va nen thơ. Nổi bật tren hai môi cầu la bốn trụ vươn cao bằng những thanh sắt đường rầy xe lửa ghép đôi lam điểm tựa cho hai đường dây cáp bằng thép giăng qua sông. Từ xa, trông chiếc cầu duyen dáng như một cây đan dây. Cầu đứng sừng sững, hien ngang vượt qua dong nước cuồn cuộn chảy.

    Ngay khánh thanh có cả đại biểu cấp Quân khu và Tỉnh về tham dự cung với đồng bao địa phương. Ban giám thị trại nhận bằng tuyen dương đa thực hiện thanh công tốt đẹp công trinh có phẩm chất cao. Người ta chẳng đá động gi đến công lao của người đứng ra lanh trách nhiệm như một Công trinh sư. Từ bản vẽ thiết kế đến điều hanh đều do một tay Trần Xuân Lộc. Trong buổi lễ, chang ngồi trong đám tu khổ sai với chiếc áo rách tả tơi. Chiếc áo ma chang vẫn mặc hang ngay suốt thời gian xây dựng cây cầu dưới mưa nắng. Kẻ bất tai, cướp công được vinh danh cười rạng rỡ. Buồn thay cho thân phận Lộc, chang chỉ là một tu nhân!

    Thời tiết đa qua khỏi ngay đông chí. Cơn mưa dầm dứt hẳn. Bầu trời quang đang. Những lọn mây trắng bắt đầu bay lơ lửng tren đỉnh rừng gia. Mặt trời đi trốn suốt mua ?ông cũng trở về mang ánh nắng vang vọt rải đều tren đồi nương ngọn cỏ,. Nắng bị khuất phục bởi khối lạnh cắt da đang ngự trị trong miền thung lũng. Mau nắng trở nên yếu ớt xanh xao vang vọt như mau da bệnh hoạn của đám tu đang phơi minh dưới ánh nắng đầu mua. Những khuôn mặt trắng bệch thũng nước va thân hinh vẹo vọ với lan da nhăn nheo bay ra đầy đủ những góc cạnh, xương xẩu tren thân thể con người. Nhin vao những bộ xương cách trí ấy, không một ai có thể ngờ rằng trước đấy không bao lâu, họ la những người trai cường tráng đầy sinh lực đa từng sống một thời oanh liệt.

    Từ bốn ngày qua, đội 3 được điều động đi khai phá thung lũng Bảy Mẫu trồng khoai lang. ?ội phải xuất trại đầu tien va nhập trại sau cung. ?ường đến khu sản xuất mất gần hai giờ di chuyển. Cuốc va rựa được cột lại thanh bó rồi phân công tu vác đi ở cuối hang. Sáng nay, khí trời giá buốt, sương núi mờ mịt làm ướt sũng cây rừng. Toán 1 phụ trách chặt cây va phát quang quanh khu vực. Họ phải mặc áo mưa trong lúc lam việc. Số người khác giẫy cỏ, cuốc đất, vun thanh từng vồng cao rồi giâm những đoạn dây rau lang xuống đấy. Họ âm thầm lam việc như đám người máy không ngưng tay. Tiếng rựa chặt cây, tiếng cuốc bổ vao long đất tạo thanh những âm thanh khô khốc, như nỗi chai cứng của tâm hồn người tu. Chốc chốc lời quở trách của quản giáo dội xuống đầu tu nhân lam việc lơi tay như ngọn roi quất vao tâm nao lam tăng them cơn đói ra rời. Cứ mỗi mười lăm phút điểm danh một lần.

    Theo thông lệ, anh đội trưởng tù la người số một, rồi người kế cận đếm số hai va cứ như thế cho đến anh cuối cung. Cách thức kiểm tu nay la một trong những khuôn mẫu tại các trại tập trung ma Cộng sản Lien Xô đa áp dụng sau cuộc cách mạng tháng Mười đẫm máu tại nước Nga. Không một tu nhân nao bỏ trốn ma không bị phát hiện kịp thời. Thời gian chờ đợi tiếng coi nghỉ ăn trưa dai the thảm. Những lát sắn luộc buổi sáng đa hết sạch trong bao tử tự bao giờ. Phần ăn trưa vẫn la chén cơm ghế sắn them một ít canh rau lang với muối va bột ngọt. Lượng thức ăn như thế, nao có đủ ca-lo cho một cơ thể phải lam việc cật lực trong suốt tám tiếng đồng hồ, chưa kể thời giờ phải lội bộ len dốc xuống đeo tren con đường đầy đất đá.

    Ngoai xa hội, Việt cộng áp dụng chính sách bần cung hóa nhân dân. Thu tóm mọi nguồn tai sản về cho ?ảng. ?ời sống của cả nước chẳng khác gi một nha tu. Mác ví tư bản la con đỉa hai voi. Một voi hút máu dân trong nước, voi kia hút máu dân thuộc địa. Tren thực tế, chế độ Cộng Sản như loai đỉa nhiều voi. Mỗi cấp chính quyền, mỗi xí nghiệp quốc doanh la những voi đỉa bu vao đồng bao ruột thịt hút đến giọt máu cuối cung va vươn cái voi “thuộc địa” để hút máu của dân tộc láng giềng bằng một hanh động rất cộng sản: “tinh thần quốc tế vô sản”! Âm mưu ấy bị thế giới chận đứng ngay tren xứ Chua tháp nen chúng “co voi” luôn.

    Rồi giờ ăn cũng đến. Tiếng coi vừa thổi la cả đội gom cuốc rựa vao một nơi. ?ám tu được lệnh tập trung quanh khu vực có bóng cây. Họ ăn vội va để danh chút thi giờ ít ỏi ngả lưng tren lá khô hay dựa vao gốc cây hầu lấy lại sức.

    Chẳng mấy chốc, giờ lao động buổi chiều lại bắt đầu, tu nhân được kiểm tra kỹ lưỡng. Lần nay, cả đội đếm tới đếm lui vẫn thiếu bốn người. Sự hốt hoảng hiện ro tren khuôn mặt ten quản giáo va ba công an vo trang. Hắn đích thân đếm từng người một rồi hét vao mặt anh đội trưởng tu: “Bốn thằng đó ten gi?” Thoạt nhin, ai cũng biết ngay bốn anh vắng mặt la Ngọc, Huệ, Lộc va Hạp. Họ thuộc tổ 1 lam công tác chặt phát những cây dại trong khu đất trồng khoai.

    aĐi úy Nguyễn Ngọc, nguyên là đai đội trưởng ?ịa phương quân thuộc tỉnh Tuyen ?ức. Nha tu bây giờ la trại biệt kích thuộc lực lượng cũ của anh đồn trú ngay xưa, nơi xuất phát các cuộc hanh quân đột kích vao mật khu VC. Do vậy Ngọc rất am tường địa thế trong vung rừng núi Thượng ?ức nầy. Trương Văn Huệ la sĩ quan trong phái đoan Quân sự Bốn Ben Kiểm Soát ?inh Chiến Hiệp định Paris thông thạo Anh ngữ va tiếng Khờ me. Le Hữu Hạp, Trung úy phi công lái phản lực cơ được đao tạo tại Hoa kỳ. Hạp con la một hướng đạo sinh vững vang về mưu sinh thoát hiểm. Riêng Trần Xuân Lộc ai cũng biết con người đa dạng của anh, can đảm va xông xáo. Với thanh phần ấy, bạn tu tin tưởng họ sẽ thanh công trong cuộc trốn thoát.

    Ten quản giáo đích thân kiểm tra lại dụng cụ lao động mới phát hiện thiếu bốn cây rựa. Hắn lập tức ra lệnh ten công an bảo vệ cấp tốc về trại báo. ?ội tu được lệnh ngồi gom lại một chỗ. Ba nong súng chĩa thẳng vao đám tu với tư thế sẵn sang nhả đạn. Nửa giờ sau, hai chiếc xe GMC chở đội công an vũ trang đến áp tải tu nhân về trại. Số con lại cung với hai con chó lung sục chung quanh khu vực. Công an truy bắt tu vượt ngục từ thanh phố cũng được điều động đến ngay. Chúng thiết lập các nút chặn tren tuyến đường chính, lục soát tất cả các loại xe di chuyển tren trục lộ. Từng ngay trôi qua la từng ngay bạn tu hồi hộp, lo âu nhưng cũng không che giấu được niềm vui tren ánh mắt.

    Nói về toán trốn trại (*).Thừa lúc lộn xộn trong giờ ăn trưa, họ lủi vao rừng mang theo thức ăn va cây rựa giấu trong áo mưa. Giờ đầu tien, họ luồn lách rất nhanh theo đúng kế hoạch đa tính toán. Sau thời gian nghỉ ăn trưa, đội tu mới được kiểm số trở lại trước khi lam việc. Khi phát hiện, họ đa vượt ra khỏi vong đai ma lực lượng truy bắt tu không thể bủa vây.

    (*) Dựa theo lời tường thuật của Trần Xuân Lộc trong bản thẩm cung. Năm ngay dai băng rừng, toán vượt ngục đa đi được một quang đường khá xa. Thức ăn khô mang theo chỉ con đủ cho ba ngay nữa. Họ phải bẻ măng rừng, hái trái bon bon ăn giặm. Ngay đi, đem ngủ tại những hốc cây cổ thụ hay trong hang đá. Cuối cung thức ăn đa cạn. Cơn đói hanh hạ suốt hai ngay khiến họ hết kien nhẫn đanh phải quyết định vao rẫy đao trộm sắn. Sắn chưa kịp nhổ len, bất ngờ một ten du kích người thượng bắt gặp. Mặc dầu khai la dân đi rừng nhưng hắn vẫn áp giải họ về cơ quan của bản lang.

    Tren đường đi, Ngọc bị trật quai dép lui lại phía sau. Nhanh như chớp, anh trở sống rựa đập vao đầu ten du kích, cướp khẩu các-bin cung cả toán chạy vao rừng. Ngọc không cố ư giết ten du kích, nhưng vi cú đánh khá nặng tay nen hai ngay sau hắn len cơn động kinh rồi tắt thở. Người Thượng rất dễ tin nhưng cũng khó tha thứ. Cái chết của ten trai lang đa lam tăng them sức thuyết phục long trung thanh của họ đối với chế độ.

    Cơn đói đa khiến cho toán trốn trại mỗi ngay mỗi chậm lại. Cần thức ăn để có sức tiếp tục băng rừng, thế nen buộc long họ phải tim đến rẫy sắn. Rút kinh nghiệm lần trước, lần nầy họ vao rẫy ban đem. Toán trốn tu không ngờ cái chết của ten du kích đa khiến cho dân bản Thượng quyết tâm phục hận. Vừa đặt chân ben trong hang rao la bị ngay những loạt đạn na vao họ. Le Hữu Hạp bị trúng đạn gay chân, ba người con lại tẩu thoát vao rừng.

    Chúng kéo Hạp về buôn Thượng, lột hết áo quần, cột căng hai tay hai chân vao bốn trụ đóng nơi sân cờ của cơ quan Xa, rồi cả đội du kích vừa ho reo vừa phóng những cây lồ ô vót nhọn vao thân thể Hạp như đâm một con trâu để tế thần. Chúng giết Hạp để trả thu cho đồng đội.

    Sáng hôm sau, ban giám thị cho người khiêng Hạp về đặt xác ben cổng trại ra vao kem theo một tấm bảng ghi hang chữ: “Ten Le Hữu Hạp trốn trại bị xử lí” thay cho một lời cảnh cáo!

    Nhin thi thể Hạp, không một ai khỏi ghe tởm cách giết người da man đến thế. ?ôi trong mắt bị nát bấy bởi thanh lồ ô đâm suốt qua sọ nao. ?ôi mắt chỉ con la hai lỗ thủng sâu máu đọng đen si. Ôi, Le Hữu Hạp, người phi công tai ba đa một thời ngang dọc tren bầu trời que hương. Giờ đây anh chết thảm thương bởi những ban tay man rợ nhất loai người. Công an đa xác định được tọa độ của toán vượt ngục. Chúng khoanh vung dồn lực lượng vao một nơi. Toán tu kỳ vọng vao rau rừng, măng le sẽ nuôi sống họ một thời gian, chờ khi yen tĩnh sẽ lần mo xuống đồng bằng. Nhưng khốn thay, đồng bao Thượng bị đói quanh năm nen đa vét sạch, bứt sạch những gi có thể ăn được. Biết điểm đứng đa bị lộ nhưng phải có chút gi để ăn hầu đổi hướng đi, họ bị khuất phục bởi cơn đói nen đanh liều mạng trở lại rẫy sắn. ?úng ngay thứ mười sáu kể từ khi chạy trốn, toán vượt trại bị bao vây tại một đồi sắn. Trương văn Huệ mở đường máu bằng những loạt các-bin va thoát được vao rừng, Ngọc va Lộc đều bị bắt sống.

    Chúng nhốt hai người tại hai phòng kiên giam riêng biệt. Ba ngay sau, Ngọc bị giết trong cum bằng phương cách rất thông dụng của công an giữ tu: Dung thanh sắt đe vao cổ nạn nhân cho đến khi tắt thở. Cách giết người như thế thường lưỡi của người bị chết le ra thật dai va đôi trong mắt lồi ra ngoai hố mắt. Ngọc đa chết the thảm như vậy bởi anh cương quyết không chịu khai một điều gi cả. Ngay chiều hôm đó, một phái đoan giới chức từ thanh phố đến trại khám nghiệm tử thi, chụp hinh. Phần kết luận trong bản phúc trinh hẳn nhien la: “Phạm nhân Nguyễn Ngọc đa cắn lưỡi tự tử”.

    Trần Xuân Lộc bị giải về Ty Công an để khai thác kẻ đồng mưu cung cấp thực phẩm, thuốc men va viết diễn tiến cuộc trốn trại. Lộc con phải liệt ke các địa điểm ma đồng bạn anh đa ngủ đem cung những dự định cho những ngay sắp tới khi chưa bị bắt...

    Sau mười ngay hỏi cung, Lộc được trả về trại để ra trước một phien toa cấp tỉnh mở ngay tại trại tu. Thanh phần tham dự gồm ban giám thị, đội công an bảo vệ va gần ngan tu nhân. Mở đầu phiên toà , một đại diện của hội đồng xét xử đọc bản cáo trạng của ben công tố. Tiếp theo, người khác đọc bản tường thuật của Lộc về diễn tiến cuộc trốn tu. Theo thứ tự lớp lang được sắp xếp lam nhiều man, nhiều cảnh. Xen vao mỗi man la cảnh một gia lang sắc tộc thiểu số than khóc, kể lể về cái chết của ten du kích va yeu cầu toa kết án tử hinh bị cáo để đền mạng. Quan toa xử án ma ta có cảm tưởng họ đang trinh diễn một tuồng kịch với đám diễn vien vụng về. Sự lố bịch của phien toa la diễn xuất theo kiểu “toa án nhân dân” xét xử theo nguyện vọng của nhân dân. Cái nguyện vọng nao có lợi cho đảng va tập đoan cầm quyền la chúng tận dụng. Con nguyện vọng nao bất lợi chúng dung chuyen chính vô sản đan áp.

    Pháp luật của đất nước nằm trong bàn tay bạo quyền. Phần kết thúc phien toa, ten chánh án tuyen bố: “Phạm tu Trần Xuân Lộc được phép phát biểu ư kiến sau cung”. Cả hội trường im phăng phắc, chờ đợi lời phát biểu của anh. Trần Xuân Lộc mặc áo quần tu mau xám nhạt, hai tay bị khóa cong số 8, hai chân mang xích sắt. Anh đứng sau vanh móng ngựa, đối diện với hội đồng xét xử có bốn công an vo trang trấn bốn góc.

    Khuôn mặt Lộc gầy rộc, hốc hác, nổi lên hai go má nhô cao. Mái tóc hớt ngắn cung với bộ râu quai nón của anh vừa mới cạo để lộ ra mau da trắng xanh. Anh quay mặt về hướng người tham dự, đưa ánh mắt nhin bạn đồng tu rồi dong dạc nói: “Thưa các ông, thưa các bạn, tôi hoan toan bác bỏ bản cáo trạng buộc tội tôi giết người, nhưng tôi không phủ nhận rằng tôi có tội. Vâng, tôi có tội với nhân dân miền Nam vi tôi chưa lam tron trách nhiệm của người sĩ quan...”

    Nói chưa hết câu, tên công an vũ trang đẩy vao miệng anh một báng súng. Máu miệng va mũi trao ra loang đầy cả ngực áo. Lộc nga gục xuống nền nha. Nhiều tiếng lao xao trong đám tu nổi len, tiếp theo la tiếng lách cách len đạn “cảnh cáo” của đám vệ binh đang bủa vây xung quanh hội trường.

    Đáng lẽ toa danh mười phút để nghị án, nhưng với tinh huống nầy chúng chẳng cần phải trinh diễn tiếp vở tuồng. Ten chánh án vội va mời mọi người đứng dậy va tuyen án: “...Tử hinh phạm tu Trần Xuân Lộc”!

    Chẳng một ai ngạc nhiên với cái án tử hinh ấy. Một phi&ec?c;n toa xét xử tội đại hinh ma chẳng có luật sư biện hộ va chẳng có nửa lời đối chất của bị cáo. Người ta thật sự đau xót cho thân phận con người sống trong xa hội “Xa Hội Chủ Nghĩa”, một chế độ dung bạo lực đe bẹp công lư, một chính quyền dung dưỡng dối trá va hận thu. Chẳng đợi mười lăm ngay theo thủ tục kháng án hay xin ân giảm, ma ngay trong đem hôm sau, chúng giết Lộc tren đồi sắn rồi chôn chang tại đó. Một tấm bia bằng gỗ xẻ mỏng được viết ngoằn ngoằn ten Trần Xuân Lộc bằng sơn.

    Mua mưa đến, nước trên đỉnh núi đẩy xuống san bằng luôn nấm mộ. Từ khi đó, nếu ai để ư tren ngôi mộ Lộc sẽ thấy từ từ xuất hiện những vien đá cuội, mỗi ngay mỗi nhiều hơn. Rồi những năm tháng sau nay nấm mộ Lộc trở thanh đống đá vun cao.

    Lộc nằm đó, thân xác tiêu hủy theo thời gian nhưng gương can trường của người chiến sĩ miền Nam vẫn con sáng ngời trong long người. Bạn tu đa điếu tang anh bằng bai thơ truyền khẩu sau đây:

    Anh vượt thoát khỏi gông cùm nghiệt ngã
    Tim tự do nơi đất Chúa vĩnh hằng,
    Như hiện về đem lồng lộng ánh trăng
    Sáng ngạo nghễ giữa bầu trời xanh ngát
    Trước họng súng thù anh cất cao tiếng hát
    Để máu trao chuyển mạch vạn con tim.
    Tiễn người đi cơn uất nghẹn im lim
    Trong bóng tối khóc thầm thương tiếc bạn
    Anh chí cả ôm vầng dương chiếu rạng
    Tôi nhỏ nhoi như hạt bụi giữa đời
    Người đi vao trang hùng sử, Lộc ơi!
    Về phần Trương Văn Huệ, sau khi thoát thân vào rừng, công an truy lung khắp mọi nơi va tiếp tục phục kích các khu rẫy sắn nhưng chẳng có một kết quả nao. Các anh đa vượt thoát vĩnh viễn khỏi miền đất tu ngục nầy. Tự Do hay la chết!.. Các anh đa chọn cái chết để được tự do. Chúng tôi ở lại tiếp tục bị đay đọa với tháng ngay bất tận khổ đau! Hay ngừng tay, hỡi những ai có mưu đồ tiếp sức cho Cộng Sản Việt Nam. ?ừng vi quyền lợi rieng tư ma xúi giục tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại đem tai năng về nước phục vụ cho một chính quyền bá đạo đang kéo đất nước vao bóng đem mịt mung.

    Hạo Nhien NGUYỄN TẤN ÍCH

    ***********************

    Nhớ Huế Tết Mậu Thân

    Thiên Nga

    Đối với chúng ta, mỗi lần nhắc đến Tết là nhắc đến những ngày vui, những ngay lễ lạt, ngay gia đinh đoan tụ ben nhau. Nhưng nói đến Tết ma kem theo hai chữ Mậu Thân, thi khơi lại một vết hằn đau thương sâu thẳm trong kư ức của mỗi chúng ta.

    Tết Mậu Thân năm ấy, 1968, Việt Cộng đa phản bội sự cam kết hưu chiến, để dân chúng được đón Tết cổ truyền của dân tộc, chúng đa bất ngờ xua quân đánh chiếm các thanh phố va tỉnh lị miền Nam ngay vao đem giao thừa, một đem mang ư nghĩa thieng lieng nhất, khi ma tren ban thờ tổ tien con nghi ngút hương trầm, khi ma nha nha con cháu đang niệm hương cầu nguyện giữa đem trừ tịch, thi đoan quân khát máu theo lệnh của Hồ Chí Minh đa trút hang loạt đại pháo xuống tren đầu dân chúng, mở man cho một chiến dịch vô cung man rợ chưa từng có trong lịch sử dân tộc.

    Có thể nói đây là một tác phẩm nổi tiếng nhất, ten giặc họ Hồ đa để lại: một bức tranh diệt chủng vẽ bằng máu của đồng bao miền Nam, ma đậm nét nhất la cố đô Huế. Đêm giao thừa Tết Mậu Thân nhằm vào ngày 29 rạng 30 tháng 01 năm 1968, trận tổng tấn công bắt đầu với khẩu lệnh của Hồ Chí Minh qua mấy câu thơ chúc Tết từ đai phát thanh Ha Nội. Cuộc chiến đẫm máu nhất đa diễn ra ngay tại các thanh phố, thị xa va quận lỵ khắp miền Nam Việt Nam.

    Với yếu tố bất ngờ, VC đa thành công vào những ng`y đầu tiên của chiến dịch, nhưng sự thật cho thấy cuộc công kích đa thất bại, vi VC quá chủ quan tren nhiều phương diện, nhất la về phương diện tin tưởng ở sự hưởng ứng của dân chúng miền Nam.

    ... Năm 1968 Tiểu Đoan 39 BĐQ đóng quân tại quận ?ức Dục, với nhiệm vụ bảo vệ khu kỹ nghệ An Hoa va mỏ than Nông Sơn, cung với một Tiểu Đoan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

    Năm đó tôi được Tiểu Đoàn cho đi phép về nha ăn Tết. Như mọi năm, năm nay Cộng Sản Bắc Việt cũng kư kết đinh chiến nhân dịp Tết Nguyen Đán. Trong đơn vị mọi người đều háo hức vi nghĩ đến những ngay ngưng tiếng súng, khỏi phải đi hanh quân truy lung VC, nếu không được về nha ăn Tết thi cũng vui xuân với đơn vị. Tôi lấy giấy phép va rời đơn vị ngay, về đến hậu cứ T? tại Miếu Bông trong ngay hôm đó, ngủ lại một đem va sáng hôm sau mua vé xe đo về Huế.

    Chiều 30 Tết tôi có mặt tại Huế. Không khí rộn rang của ngay Tết bao trùm thành phố, đây la lần đầu tien tôi được phép về vui Tết với gia đinh.

    Về đến nhà thì đa có mặt ba tôi, ông cũng từ Sai Gon mới về trưa hôm nay. Kể từ khi ba tôi đắc cử vao Thượng nghị viện va lam Chủ Tịch ủy ban Canh Nông Thượng viện đến giờ nay tôi mới gặp lại ông. Không thấy có điều gì thay đổi nơi ông, lúc nào ông cũng binh tĩnh va điềm đạm. Khuôn mặt xương hơi gầy, vầng trán thật cao với mái tóc gợn sóng chải ngược ra sau đầu. Cuộc đời lam chính trị của ông thăng trầm qua nhiều giai đoạn va cũng thật nhiều sóng gió, nhưng không bao giờ lam cho ông nản long. Có một điều lam tôi vui la ông mời tôi uống với ông một ly rượu, thế la ba tôi đa xem tôi la người lớn. Cha con han huyen chưa được bao lâu thi đại nạn đa xảy đến cho xứ Huế va cho cả miền Nam Việt Nam.

    Đêm giao thừa tiếng súng nổ thật nhiều, xen lẫn với tiếng pháo đón giao thừa, đến gần sáng tiếng súng nổ cang nhiều, kể cả súng đại lien. Tôi vô cung ngạc nhien khi nghe tiếng đạn bay qua đầu ma lại từ tren cao bắn xuống, không phải bắn từng vien ma bắn lien thanh. Trời đa hừng sáng ma súng vẫn nổ, súng nổ tứ phía, tôi không hiểu chuyện gi đa xảy ra. Không thể có đơn vị nao vô kỷ luật để cho binh sĩ dung súng thay pháo một cách nguy hiểm như vậy được.

    Đến khi trời đa sáng hẳn, thấy vài người lính cầm súng đi ngoài đường ngang qua hàng rao nha tôi, định keu họ để hỏi tinh hinh có chuyện gi xảy ra không, nhưng khi nhin kỹ lại, tôi thấy những người lính đó tay cầm súng AK47, mặc quần cụt, đầu đội nón tai beo.

    Thôi chết rồi Việt Cộng! May mà chúng chỉ đi ngang qua chứ không vào nhà, nếu chúng vào, tôi chẳng biết xử trí lam sao, vi lúc đó tôi đang mặc bộ đồ trận ngụy trang. Trước tien phải thay ngay một bộ đồ dân sự và cất giấu tất cả những gi có liên quan đến quân đội.

    Tôi thật thắc mắc và hoang mang, tại sao VC lại có thể ngang nhiên đi trong thành phố như vậy, quân đội ta ở đâu va cả quân đội Hoa Kỳ nữa. Tin tức mu mịt, biết đi đâu va hỏi ai bây giờ, đai phát thanh im tiếng chẳng nghe loan báo gi. Cho đến trưa, tôi mới được biết VC đa chiếm thanh phố Huế va nhiều thị trấn khác của miền Nam.

    Tôi vẫn nằm chịu trận tại nha, chẳng biết phải di tản đi đâu, vì nghe nói đâu đâu cũng có VC. Tôi rất lo lắng cho sự an toan của ba tôi, nếu biết được nơi nao con nằm dưới sự kiểm soát của Chính quyền Quốc Gia, tôi sẽ tim cách đưa ba tôi đến đó ngay. Vai ngay sau, một trái đạn đại bác rơi ngay phía trước nha tôi, đao một hố sâu ngay giữa đường lộ va lam sụt mái ngói cung nhiều mảnh đạn ghim vao tường nha tôi.

    Vi không biết tình hình sẽ biến chuyển ra sao và cũng sợ lạc đạn, tôi đa đề nghị với ba tôi nen vao tránh đạn trong dong Chúa Cứu Thế, vi bờ tường của nha dong rất day. Vao đến nơi tôi mới biết dân chúng trong vung đa đến lánh nạn tại nha dong rất đông.

    Gia đinh tôi cung với gia đình ông Nguyễn Đinh Hàm, ông Tôn Thất Hanh và gia đinh ông Nguyễn Văn Ái la hang xóm của tôi, cung tá túc trong góc phải của hội trường. Biết gia đinh tôi đến, cha bề tren của nha dong la cha Lanh đa đến gặp ba tôi, mời ba tôi lên ở tren lầu hai la chỗ danh cho các linh mục. Trước đây ba tôi có thời gian lam giáo sư dạy văn hóa cho tu viện. Cha Lanh nói nhiều lắm nhưng ba tôi nhất quyết từ chối.

    - Thưa Cha, xin Cha cứ để cho chúng con ở đây giống như mọi người, không có gi phải ưu đai.
    Vài ngày sau, một trái đạn đại bác 155 ly rơi ngoài sân nh` dòng cách chỗ gia đinh chúng tôi cư ngụ khoảng 50m, nhờ bức tường của hội trường nen mọi người thoát chết. Sau đó chúng tôi di chuyển qua ngôi nha ba tầng của nha dòng và ở tầng dưới cung.

    Tại đây dân tị nạn quá đông, nen rất chật chội, nhưng ba tôi vẫn ở chung với gia đinh. Vai ngay sau đó, tôi đề nghị với ông dọn len lầu hai la phong của các linh mục, vi dưới nay quá hỗn tạp. Ông đồng ý và cha Lanh đưa chúng tôi lên cùng với ông Nguyễn đ*igrave;nh Ham, ông Tôn Thất Hanh, ông Nguyễn Văn Ái va em trai kế của tôi. Phong có hai chiếc giường đơn va một chiếc ban nhỏ. Ban đem tôi len ngủ tren phong, ban ngay xuống dưới cung sinh hoạt với gia đinh.

    Dân chúng tỵ nạn càng ngày đến càng đông và có nhiều người bị thương. Cung với các anh em sinh vien y khoa, chúng tôi tổ chức một phong cấp cứu, thuốc men tuy rất ít, nhưng cũng có thể dung săn sóc tạm thời. Tình hình chiến sự mỗi ngay một bi quan, VC chiếm trường Thien Hựu, nhưng vẫn chưa vao dong Chúa Cứu Thế.

    Mọi người sống trong tình trạng vô cùng căng thẳng và lo lắng, tin tức của đai BBC cang lam cho chúng tôi bi quan hơn. Một buổi trưa, khi chúng tôi đang nằm tren phong thi VC đa vao dưới lầu, lua dân chúng ra sân ma chúng tôi không hay biết. Tôi nhìn qua cửa sổ thấy nhiều tên VC vo trang đang lua đẩy dân chúng va quay lại nói với ba tôi:

    - Ba, VC vào rồi
    Ông nằm yen nhìn tôi không nói gi. Em tôi hỏi:
    - Sao anh?
    Tôi bảo:
    - Trốn đi
    Em tôi rời phòng v&ahrave; sau đó thoát nạn
    VC dùng loa phóng thanh kêu gọi mọi người phải ra trinh diện. Các ông Nguyễn đinh H`m, Tôn Thất Hanh và ông Nguyễn Văn Ái rời phong đi xuống sân, con lại ba tôi va tôi. Hai cha con im lặng chẳng nói gi, nhưng tâm trạng rối bời.

    Tôi chẳng biết phải xử trí ra làm sao, nếu một minh tôi, mọi chuyện thật dễ dang: “trốn”. Tinh trạng sức khỏe của ba tôi không được khả quan vì ông bị suyễn rất nặng. Ba tôi vẫn nằm yen lặng suy nghĩ, nếu như ông biểu lộ một tí lo lắng hoặc sợ sệt thi tôi đa đem ông đi trốn. Ông im lặng không tỏ thái độ gi cả, nét mặt vẫn binh thản, lam tôi thật bối rối.

    Vài tên VC đa đi lân lầu và la hét ngoài hành lang, chúng sắp sửa đi đến phong chúng tôi đang nằm. Lúc đó ba tôi quay lại nhin tôi va hỏi:

    - Sao con?
    Tôi có cảm tưởng ông hi vọng tôi sẽ tìm ra một giải pháp nào đó để đối phó với tinh thế, nhưng lúc đó đa quá trễ, hai tên VC đa vào gần đến nơi. Câu trả lời của tôi sau đó đa cướp đi mạng sống của ông.

    - Thôi mình xuống trình diện đi ba!
    Tôi nhắc ông đem theo một chiếc mền nhỏ vi lúc đó thời tiết khá lạnh v` ông quan chiếc mền vao cổ. Hai ten VC ập vao phong dí súng vào lưng chúng tôi và bảo:

    - Đồ ác ôn đi xuống ngay không tao bắn bây giờ
    Khi xuống khỏi cầu thang, tên VC đẩy chúng tôi ra sân nh` thờ, ở đây chúng tập trung toan đan ông, đan ba va trẻ em, chúng tập trung trong sân của nhà dòng. Có khoảng 150 người đang ngồi xổm thanh nhiều hang dọc, ba tôi bị đay vao ngồi ở cuối hàng bên trái, tôi ngồi ở cuối hang thứ nhi ben tay phải của ba tôi. Ben phải của nhóm người đang ngồi xổm khoảng 15m về phía góc nha thờ, có một nhóm thanh nien trẻ khoảng 10 người đứng rieng một chỗ, trong số đó tôi thấy có hai anh sinh vien y khoa. Tôi đoán nhóm nay đa được thanh lọc trước khi chúng tôi xuống. Chúng bắt đầu xét hỏi giấy tờ từ hang ben trái va từ tren xuống dưới. Toán VC ở đây khoảng 15 ten mang súng AK47, có vai ten mặc thường phục mang súng K54. Tôi không quen mặt những tên này, nhưng chắc chắn chúng l` những ten nằm vung dung để chỉ điểm. Chúng hỏi thẻ căn cước từng người, nếu nghề nghiệp ghi la quân nhân, công chức, bị keu ra khỏi hàng ngay. Trước khi chúng hỏi đến ba tôi, một ten mang K54 chỉ mặt một ông ngồi hang giữa va nói:

    - Anh kia, Hội đồng xa mà ngồi đó làm gì, ra đây
    Chúng tiếp tục kêu ra khỏi hàng vài người nữa m` chúng biết mặt, chả cần xét hỏi gi cả. Khi đến phien ba tôi, một ten hỏi:

    - Giấy tờ đâu?
    - Tôi không mang theo. (ba tôi mặc một bộ pyjama mau trắng, một áo len ngắn tay mau vang nhạt va khoác pardessus, tất cả giấy tờ do mẹ tôi cất giữ)

    - Nghề nghiệp lam gi?
    - Tôi làm dân biểu
    - Công việc của dân biểu là làm gì?
    - Tôi đại diện cho dân chúng
    - Đại diện dân là tay sai của chính quyền. Ra đây
    Ba tôi bước ra khỏi hàng và tên đó gọi một nữ VC dung một sợi dây nylon trói cặp cánh ba tôi lại. Xét và bắt ba tôi xong là hết hang dọc thứ nhất, chúng tiếp tục xét theo hang dọc thứ nhi. Bây giờ tôi đa trở thanh người ngồi cuối cung của hang dọc thứ nhất.

    Vi ngồi cuối hang, nên tôi chỉ xe dịch một bước la qua hang kế ben, tiếp tục xe dịch nữa, bây giờ tôi đa trở thanh người cuối của hang dọc thứ tư. Một người nữa bị ten chỉ điểm bắt la Trung úy Bui Xuân Hồng, bao đệ của giáo sư Bui Xuân Bao, Viện trưởng ?ại học Cần Thơ.

    Sau khi ba tôi bị chúng bắt, tôi suy nghĩ muốn đien đầu. Tôi muốn để bị chúng bắt theo ông, may ra tôi có thể giúp đỡ được cho ông phần nào vì ông đang bị suyễn rất nặng. Ư tưởng khác lại đến với tôi, nếu tôi để bị bắt, sợ rằng ba tôi sẽ bảo tôi ngu, tại sao để cho chúng bắt va nếu chúng biết tôi ở đơn vị Biệt động quân, chúng sẽ giết tôi ngay.

    Cuối cùng tôi quyết định phải trốn thoát. Lúc chúng đang xét hỏi ở h`ng trên, tôi đứng dậy giả bộ lấy gói thuốc trong túi quần châm lửa hút, đảo mắt một vong, thấy chưa tên nào để ư đến minh, tôi từ từ rảo bước đi qua nhập bọn với đám thanh nien được chúng tha đang đứng ben phải.

    Vừa lúc đó, một người trong hang đang bị xét hỏi đâm đầu chạy, một trang AK nổ gion va anh ta gục xuống ngay. Cha bề tren của nha dong là cha Lanh đang đứng gần đó cất tiếng gọi:

    - Mấy anh sinh vien y khoa đâu? Cấp cứu
    Hai anh sinh vien y khoa trong đám thanh niên bước ra, tôi bước theo ngay và cùng khi&ec?c;ng người bị bắn vao phong cấp cứu. Một ten VC mang AK đi theo chúng tôi. Tôi bảo nhỏ hai anh sinh vien:

    - Để tôi làm cho
    Người bị bắn gay chân, tôi cắt ống quần va bắt đầu băng bó. Ten VC nhgrave;in tôi làm có vẻ thanh thạo nen không nghi ngờ gi, một lúc sau, hắn bỏ đi ra ngoai. Tôi bảo hai anh sinh vien tiếp tục cấp cứu người bị bắn va tôi lẻn ra khỏi phong trốn mất.

    Sau đó tôi biết chúng dẫn những người bị bắt đi về hướng An Cựu. Chúng đi rồi tang thương va đau khổ bao trùm không khí trong khi tị nạn. Hôm sau tôi rời dòng Chúa Cứu Thế v` ra khu tị nạn ở đường Kiều Mẫu. Tại đây tôi gặp nhiều người từ các địa điểm khác nhau trong thanh phố, do đó biết được một số tin tức va tôi quyết định trốn về phi trường Phú Bai.

    Tôi đến được làng Phú Lương an toàn, phi trường Phú Bai vẫn nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. Chiều hôm đó, đang ngồi trong quán cà phê, chợt thấy một người lính của TĐ39/BĐQ, anh ta cho biết Tiểu Đoan vừa mới được không vận từ ?a Nẵng ra Huế, hiện đang con ở trong phi trường. Gặp lại được đơn vị, tôi mừng không tưởng tượng được. Người binh sĩ cận vệ của tôi ôm chầm lấy tôi nói:

    - Em biết Tiểu Đoàn ra Huế thế nào cũng gặp lại ông thầy, nen em có đem quần áo theo cho ông. VC “chơi” thế nao được ông. Tôi thay quân phục va bắt tay vào là:m việc ngay.

    Trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân, chỉ có trận đánh vao Huế của VC là thành công và gây được tiếng vang. Tuy nhien Cộng quân chỉ chiếm được ưu thế trong 5,6 ngày đầu, nhờ vao yếu tố bất ngờ, sau đó QLVNCH va đồng minh đa phản công trở lại va đẩy được chúng ra khỏi thanh phố.

    Trong suốt thời gian chiếm đóng thanh phố Huế, Cộng quân đa gây những tội ác tay trời ma dân tộc Việt Nam va cả những người con lương tri trên thế giới, không thể nào dung thứ được. Tren 5000 đồng bao đa bị chúng sát hại bằng những phương tiện da man nhất.

    Sơ lược cuộc điều quân của CSBV trong trận đánh chiếm Huế

    Tấn công vào cố đô Huế, Cộng quân mở hai mặt trận chính như sau:

    A. MẶT TRẬN PHÍA BẮC:

    Gồm các mũi tấn công chính: Cửa Chánh Tây, cửa An Hoa, Kỳ đai, sân bay Tây Lộc va đồn Mang Cá 1. CỬA CHÁNH TÂY

    Cửa Chánh Tây được một tiểu đội của đại đội Hắc Báo trấn giữ. đặc công VC đa khống chế được đơn vị nay va dung chất nổ phá cổng cho lực lượng chánh quy của chúng từ bờ đối diện sông ?ao tran vao thanh nội. Sau khi vao được thanh nội, chúng đánh chiếm luôn đại Nội.

    đến sáng, đơn vị Hắc Báo chống cự không nổi với quân số đông đảo của VC, đa phải rút lui. Việc thất thủ ?ại Nội đa kéo dai them trận đánh ở Huế hang tuần lễ, vi Cộng quân chỉ cần sử dụng một lực lượng nhỏ đóng chốt tren các tường thanh la đa ngăn chặn được sự tiến công của đơn vị ta. Tường thanh day hơn 10 thước tây, pháo binh va bom 250 cân Anh khó long phá sập.

    2. CỬA AN HOA

    Tại khu vực cửa An Hòa, một Tiểu đoàn của Trung đoàn 9 Sư đoàn 309 Bắc Việt cầm chân Tiểu đoan Nhảy Du của ta. Khoảng 2g30 sáng, một mũi đặc công VC vượt sông đột nhập cổng An Hoa, lam đầu cầu cho Trung đoan 9 của chúng chiếm lang An Hoa. Cộng quân cũng đa chiếm cầu Bạch Hổ, phá sập một nhịp cầu phía tả ngạn để ngăn chặn viện binh của Mỹ.

    3. ĐỒN MANG CÁ

    Đồn Mang Cá, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB của Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng la điểm hẹn của các mũi chủ lực CS. Theo đúng chiến thuật đặc công lam mồi, một đại đội đặc công giữ nhiệm vụ tấn kích, đại đội nay được chia lam bốn mũi từ thôn Triều Sơn Tây vượt sông, rồi men theo bờ thanh tiến về đồn Mang Cá. Cánh quân chủ lực đánh đồn Mang Cá phải dừng lại vi sự chống trả manh liệt của đơn vị trú phong. Cộng quân mở nhiều đợt tấn công lien tục, mong chiếm được Bộ Tư Lệnh Sư ?oan 1 BB, nhưng đanh thúc thủ. Có lúc tiền quân của chúng đa đột nhập được vao khu bệnh xá va đa tan sát một số thương bệnh binh.

    4. SÂN BAY TÂY LỘC

    Một đơn vị đặc công chui theo cống Thủy Quang đột nhập được vao thanh nội. Nhờ một ten VC nằm vung đa cắt dây kẽm gai ở miệng cống va hướng dẫn chúng tiến vao phi trường. Chúng đa đốt được kho xăng, kho đạn va khu nhân vien kỹ thuật, nhưng chủ lực quân của chúng bị lạc đường qua trại Quân Cụ. Nhờ thế lực lượng bảo vệ phi trường đa kịp thời điều động đơn vị bảo vệ được sân bay.

    5.- Kỳ đài và cửa Thượng Tứ

    Kỳ i;ài ở Phú Văn Lâu la một trụ cờ thật cao nằm tr&ec?c;n tường thanh, giữa cửa Thượng Tứ va cửa sập. đơn vị CS đa chiếm được Kỳ đai và treo lên lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Cờ rộng 96m vuông gồm hai vạt xanh, đỏ, có ngôi sao vàng ở giữa. Phi cơ trực thăng của ta đa bắn rách nát lá cờ nhưng không hạ xuống được. Từ Kỳ đai, đơn vị CS nay tiến chiếm cửa Thượng Tứ, rạp Hưng đạo va bót Cảnh Sát Đông Ba.

    B. MẶT TRẬN PHÍA NAM

    Mặt trận phía Nam do tên Thân Trọng Một chỉ huy, hắn ta la người Huế biết rất ro địa hinh địa vật của xứ Huế. Lực lượng của nó gồm có 4 Tiểu đoan bộ, Trung đoan 9 của S? 309 Bắc Việt va 4 đội đặc công.

    1. MẶT TRẬN TAM THAI

    Để có thể tiến quân về Huế an toàn, Cộng quân đa chọn căn cứ Thiết Giáp ở Tam Thai thuộc An Cựu lam mục tieu chiến lược. Nếu chúng tieu diệt được đơn vị Thiết Giáp nay, chúng có thể dễ dang tiến chiếm Huế không có gi trở ngại. Chúng sử dụng ba mũi đặc công tiến chiếm chân, sườn va đỉnh đồi căn cứ. Vi đa bị đột kích một lần vao hai tháng trước, nen đơn vị Thiết Giáp đa tăng cường hệ thống phong thủ.

    Hai mũi đặc công tiến chiếm chân và sườn đồi của chúng đa bị thiệt hại nặng nề. Chỉ mũi đánh chiếm đỉnh đồi la thanh công. Ngay mung 2 Tết lực lượng phản kích của QLVNCH nhiều lần tiến len tái chiếm đỉnh đồi. Một số lớn binh sĩ của toán đặc công CS đa bỏ chạy, số con lại cố tử thủ va sau đó cũng chết dần mon tại đây. ?ến sáng ngay mung 3, T? 818 VC mới len thay thế đám tan binh đặc công nay.

    2. MẶT TRẬN HỮU NGẠN

    Ngay khi đặc công tiến đánh núi Tam Thai, tên Thân Trọng Một đa cho các cánh quân cơ hữu vượt sông An Cựu tiến đánh thị xa Huế. Khoảng 7 giờ sáng, quân CS đa xâm nhập được vao các đường phố. Các lực lượng phong thủ của QLVNCH tuy bị bất ngờ va với quân số ít ỏi vi một số quân nhân đa đi phép Tết, nhưng đa chống cự manh liệt, nen mai đến bốn ngay sau Cộng quân mới chiếm được ?ại đội Quân Cụ, Ty Ngân Khố, Toa Đại Biểu, Toa Hanh Chánh tỉnh Thừa Thien, nha lao Thừa Phủ. Hơn 2000 tu nhân đa tháo cũi sổ lồng, tạo thanh một lực lượng gây rối đáng sợ. Ta chỉ con giữ vững được Tiểu Khu, đai phát thanh, bản doanh MACV va bến tau Hải quân.

    C. HANH QUÂN PHẢN CÔNG TÁI CHIẾM HUẾ CỦA QLVNCH

    Cuộc phản công của QLVNCH khởi đầu ngày mung 3 Tết Mậu Thân tức ngay 1-2-1968. ?ơn vị Nhảy du phải đánh chiếm từng căn nha, Cộng quân rút lui dần vao nội thanh, lợi dụng tối đa các công sự phong thủ của vong thanh để chống trả.

    Qua ngay mung 4 Tết, sau khi mặt trận Quảng Trị đa tạm yen, TĐ 9 Nhảy Du mới được trực thăng vận vao Mang Cá. Đơn vị Nhảy du cũng đánh xuyen qua tường thanh tiến vao giải vây cho đơn vị phong thủ sân bay Tây Lộc. Sáng ngay mùng 5 Tết, lực lượng Du giải tỏa được phi trường va tái chiếm cửa An Hoa. Nhưng các cánh quân tiến vao ?ại Nội đa bị khựng lại vi sự chống trả manh liệt của địch.

    Trận chiến kéo dài thêm 3,4 ngày không có tiến triển. Ngày mung 9 Tết, Cộng quân được tăng cường them hai TĐ va phản công gây thiệt hại cho TĐ 4/3BB. Cũng trong đem, trước nguy cơ viện binh của quân đội Mỹ từ phía hữu ngạn tăng cường sang, Cộng quân đa giật sập cầu Trang Tiền. Trận chiến kéo dai lam cho cả ta va địch đều mệt mỏi va tổn thất khá cao.

    Ngày 12-2-68 hai TĐ TQLC được độ bộ xuống Bao Vinh, cung lúc đó, TQLC Hoa Kỳ cũng đổ bộ len Bao Vinh, rồi từ đây vượt cổng hậu đánh vao thanh nội. Ngay 13-2-68 mưa phun kéo dai từ Tết đột ngột chấm dứt, lần đầu tiên sau 15 ngay, Huế được nhin thấy ánh mặt trời.

    Lợi dụng thời tiết quang đang, phi cơ lên vùng yểm trợ tối đa va cũng oanh tạc nặng nề khu vực lang La Chữ, nơi tinh nghi đặt bộ chỉ huy của Cộng quân. Trận chiến vô cung gay go vi Cộng quân quyết tử thủ tren tường thanh va trong nha dân chúng, gây thiệt hại nặng cho đơn vị giải tỏa.

    Tổn thất phía Hoa Kỳ khá cao, tren 100 binh sĩ thiệt mạng và 9 trực thăng bị bắn rơi. Khi Chiến ?oan Nhảy Du tiến quân vao giải tỏa đồn Mang Cá thì quân đội Mỹ cũng tiến vao Huế. Tại tả ngạn, các đơn vị của SĐ 1 Không Kỵ Mỹ chỉ phối hợp với lực lượng Nhảy Du va Bộ binh VNCH trấn giữ vong ngoai.

    Tại hữu ngạn, nơi có bộ chỉ huy MACV, TQLC Mỹ từ bộ chỉ huy MACV bắt đầu mở những cuộc h`nh quân lục soát quanh khu vực đóng quân. Từ phía nam hai ?ại đội của SĐ 1 TQLC Hoa Kỳ cũng từ cầu An Cựu tiến len phía bắc. Với mục đích tieu diệt địch hơn chiếm đất, TQLC Mỹ ban ngay hanh quân lục soát tieu diệt địch, ban đem kéo về bộ chỉ huy MACV.

    Mai tới ngay 11 âm lịch, tức ngay 9-2-68, TQLC Mỹ mới thanh toán xong các khu vực sân vận động, nha ga va Phủ Cam. Tính đến ngay nay, theo bản tin quân sự, tại hữu ngạn sông Hương, TQLC Hoa Kỳ đa giết chết 934 Cộng quân, bắt sống 4 tu binh, thu 307 súng các loại. Phía quân đội Hoa Kỳ có 31 tử trận, 201 bị thương nặng, 80 bị thương nhẹ.

    Qua chiều ngay 10-2-68, th&ecrirc;m nhiều đơn vị TQLC Hoa Kỳ được trực thăng vận hoặc di chuyển bằng quân xa vao khu vực hữu ngạn. Nhờ sự hiện diện của các đơn vị nay, lực lượng địa phương của tỉnh Thừa Thien bắt đầu hoạt động trở lại.

    Có thể nói, khi cuộc hành quân Sóng Thần 739/68 được phát động để tái chiếm khu ?ại Nội vao ngay 14-2-68, tinh hinh tại khu vực hữu ngạn của sông Hương đa yen ổn.

    D. HANH QUÂN SÓNG THẦN 739/68

    Trong cuộc hành quân giải tỏa thành nội Huế, toan bộ mặt trận được chia lam 5 khu vực:

    Khu A, gồm góc đông bắc, tức Mang Cá lớn va Mang Cá nhỏ. Khu nay la bộ tư lệnh Sư Đoàn 1 BB, tương đối an toan. Khu B, tức khu chính đông, bao gồm cả chợ Đông Ba. Mặc dầu một số Cộng quân vẫn con tử thủ tren tường thanh, nhưng ta đa kiểm soát các đường phố.

    Khu C, la góc tây bắc, gồm phường Tây Lộc và Tây Linh. Trung Đoàn 3 của SĐ1/BB chịu trách nhiệm khu vực nay. Cộng quân vẫn con chiếm giữ khu vực chính tây thuộc phạm vi phường Tây Linh, kể cả nha thờ của họ đạo ở đây.

    Khu D, tức phía đông đại Nội có cửa Thượng Tứ va Đông Ba. Khu này do TĐ 1/5 TQLC Mỹ đảm trách.

    Khu E, bao gồm khu vực Cộng quân cố thủ ở Kỳ đai, cửa Ngọ Môn và cửa Thượng Tứ.

    Khu F, la góc tây nam thành nội do Chiến Đoan A TQLC Việt Nam đảm trách.

    Cuộc hành quân giải tỏa tiến hanh rất chậm, vì thời tiết quá xấu đa hạn chế vấn đề không yểm. Cộng quân thủ trên những tường thành kiến cố đa ngăn chặn sự tiến quân của ta. Các ổ súng phòng không của địch trên bờ thanh, cũng khiến trực thăng võ trang không hoạt động hết khả năng.

    Tại khu vực D, tức khu đông nam Đại Nội, nhất là tại khu vực cửa Đông Ba, TQLC Hoa Kỳ đa giao tranh ác liệt với địch. đánh chiếm từng ngôi nhà , từng cao điểm, từng con đường, đây là một trận tác chiến trong thành phố vô cùng khốc liệt. Ta bên này đường, địch bên kia đường. đến sáng ngày 18-2-68 TQLC Mỹ đã chiếm lại được hoàn toàn cửa Đông Ba.

    Các đơn vị TQLC Việt Nam tái chiếm được cửa Hữu. Ngày hôm sau tiến đánh Nam Đai, cửa Nha Đồ và khu vực đường Tôn Thất Thiệp.

    Mặc dầu Ha Nội đa ra lệnh cho Cộng quân phải tử thủ tại thanh nội, với công điện ngay 15-2-68 “Phải giữ thanh nội, không được rút ra ngoài để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cho cả nước”. Nhưng trước áp lực của QLVNCH và Hoa Kỳ càng ngày càng đe nặng, buộc long cấp chỉ huy tiền phương của chúng đa không tuân lệnh trung ương va cho lệnh tan sát tập thể quân nhân, công chức va thường dân trước khi rút lui.

    Liân Đoàn 1/BĐQ sau khi giải tỏa xong khu vực phía bắc của Bộ Tư Lệnh Quân Đoan 1, được không vận ra Phú Bài tăng cường cho mặt trận giải tỏa Huế. Lực lượng của LĐ1/BĐQ gồm 3 Tiểu Đoan 21/BĐQ, TĐ 37/BĐQ va TĐ 39/BĐQ. Nhưng TĐ 37/BĐQ đa được tăng phái cho TQLC Hoa Kỳ ra trấn đóng tại Khe Sanh. ?ây la đơn vị duy nhất của QLVNCH cung sát cánh với quân đội Hoa Kỳ tại mặt trận nóng bỏng nay.

    Liên đoàn được di chuyển về đóng quân tại An Cựu để chờ lệnh. Hai ngày sau, Liên Đoàn mới nhận được lệnh hành quân. Liên Đoàn có nhiệm vụ giải tỏa vùng Vỹ Dạ va Gia Hội. Đây là những cứ điểm cuối cung của Cộng quân.

    Muốn đến Vỹ Dạ bằng đường bộ, thì con đường độc nhất là băng qua Đập đá. TĐ 39/BĐQ nhận lệnh di chuyển bộ từ An Cựu đến Đập đá, đoan quân di chuyển hai hang dọc theo đường lộ, đến nơi vào khoảng 4 giờ chiều. Bốn khẩu đại liên được bố trí ben đập đá bắn yểm trợ cho toán khinh binh 4 người chạy qua ben kia đập, lập đầu cầu cho TĐ tiến quân.

    Sau khi đa chiếm được vài căn nhà, từng ?ại ?ội hai hang dọc chạy băng qua Đập đá. Tiểu đoan chia lam hai cánh tiến song song dọc theo trục lộ. Hai cánh quân tiến không được nhanh vi có quá nhiều trở ngại. Dân chúng khi thấy quân đội đến, đa bỏ nha cắm đầu chạy ngược lại với hướng tiến của ta lam vô cung trở ngại cho binh sĩ, vì sợ bắn nhầm đồng bao. Sau bao nhieu ngay sống trong lo âu, dưới sự kềm kẹp va đe dọa của lũ Cộng Sản bạo tan giờ đây đồng bao thấy được quân đội đến giải tỏa cho họ, chẳng cần đem theo đồ đạc, cứ bồng bế nhau chạy thoát ra khỏi vung địa ngục trước đa.

    Sự chống cự của địch không mạnh, có lẽ đại đơn vị của chúng đa rút lui. TĐ phải đóng quân đem tại vung Vỹ Dạ va sáng hôm sau được lực lượng Hải Thuyền chở qua cồn Hến. Đơn vị băng ngang qua cồn Hến va lại dung lực lượng Hải Thuyền để đổ bộ vao Bãi Dâu. TĐ 21/BĐQ từ Bãi Dâu đánh ngược len Gia Hội. TĐ 39/BĐQ tiến thẳng đến bờ sông Gia Hội va từ đó giải tỏa ngược len về hướng chợ Đông Ba.

    Cứ điểm cuối cùng của Cộng quân là chùa Theravada, đa bị TĐ 21/BĐQ bao vây chặt chẽ. Để khỏi phải dung súng cối, có thể làm hư hại nhà cửa của dân chúng, Liên đoàn ra lệnh cho TĐ 39/BĐQ tăng cường hỏa tiễn M 72 cho TĐ 21/BĐQ, để tấn công chùa Theravada.

    sáng ngay 25-2-1968 toàn thể khu vực Gia Hội được giải tỏa va cũng vao sáng hôm đó, đại đội Hắc Báo của SĐ1/BB cũng đa chiếm lại được Kỳ Đai va triệt hạ lá cờ Cộng sản.

    Lá cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH được kéo lân, báo hiệu cơn ác mộng, cơn sốt xuất huyết của Huế đa qua. Trận chiến Huế chấm dứt sau 25 ngày đêm.

    Sau chiến dịch điên cuồng thô bạo ấy, Huế tiêu điều đổ nát và nồng nặc mui tử khí. Bà con chạy ngược chạy xuôi, hỏi thăm nhau ai còn ai mất va tất bật chạy đi tìm xác thân nhân của minh khắp nơi, vi trong thời gian chiếm giữ Huế, VC đa giết va bắt theo hang ngan người dân vô tội. Va rồi lần lượt hang trăm mồ chôn tập thể được khám phá, ma trong đó có thân phụ của tôi đa bị giết một cách man rợ.

    Có người bị giết bằng cán cuốc, có người bị chém bằng ma tấu, bằng lưỡi le AK, cũng có người bị trói tay chân bằng dây kẽm gai, dây điện thoại, rồi bị đẩy xuống hố chôn chung với các nạn nhân khác. Trong cơn đau thương lớn lao ấy không có gia đinh nao ở Huế ma không có mất mát.

    Năm nay cũng la năm Thân, nhớ lại Tết Mậu Thân năm xưa, tôi có cảm tưởng như con nghe văng vẳng đâu đây, tiếng người xướng ngôn viên của đài phát thanh Huế, đang liên tục thông báo cho đồng bao về những thi hài các nạn nhân bị Việt Cộng sát hại, hiện chưa có thân nhân nhận về mai táng.

    Hết thi hài này đến thi hài khác, kèm theo những đặc điểm để nhận dạng, quần áo, vóc dáng, tóc răng v.v... Tôi có cảm tưởng như là những lời nhắn gởi của các oan hồn con vất vưởng, chưa có thân nhân nhận lanh.

    Sau biến cố kinh hồn đó, cứ mỗi lần nghe VC xuất hiện ở đâu là đồng bao dứt khoát gồng gánh bồng bế nhau đi, chấp nhận bỏ lại đằng sau nha cửa, mồ mả, để trốn thoát VC.

    Hơn ba chục năm sau ngày tang thương ấy, mọi chuyện tưởng đa nguôi ngoai phần nào trong kư ức tôi, nhưng không! nó vẫn con và chắc sẽ còn mãi mãi, nhất la từ ngay sống lưu vong nơi đất khách, mỗi độ xuân về hay những buổi chiều ta, nhớ về cố hương xa cách, nơi có nắm xương tan của thân phụ tôi, niềm đau đớn, hận thu lại khơi dậy, nó không hừng hực như những ngay tháng cũ, nhưng vẫn con âm ỉ trong tôi nỗi buồn sâu kín - Ôi! nợ nước, thu nha!!

    Mặc dù ngày nay, tôi và các bạn, chúng ta may mắn được sống trên đất nước tự do, nhưng 80 triệu đồng bao ta con đang ren xiết dưới gông cùm Cộng Sản

    Niềm ước vọng của chúng ta là làm thế nào cho đồng bao ở tại que nha phải thật sự được tự do va đất nước Việt Nam thân yeu của chúng ta không còn nằm dưới ách thống trị độc tai, tàn ác và ngu xuẩn của be lũ cộng sản bạo tàn.

    Thiên Nga

    *******************************

    Hoàng Phủ Ngọc Tường, Kẻ Hái Phu Du Sau Thảm Sát Tết Mậu Thân 1968 Tại Huế

    Mường Giang

    Triết Gia Đức M.Heidegger từng ví con người như một Etre Pour La Mort, coi đó như một sinh thể cho tử vong tử diệt, giống như quan niệm trong Triết Học Phật Giáo, cho rằng đời la bể khổ trong coi thế vốn vô thường, để rồi rốt cục ai cũng phải chết.

    Tóm lại sinh tử la lẽ tất yếu của con người không ai tránh khỏi, nhưng để yen tâm bước vao coi vĩnh hằng, hầu như ai cũng cố gắng giữ trọn đạo lam người, tốt cho minh, ích cho đời va lưu danh cung sông núi.

    Sau ngay 30-4-1975, cộng sản Ha Nội huenh hoang tuyen bố tất cả những tro lừa bịp chính trị đa lam từ năm 1930 la thời gian ma đảng cộng sản quốc tế chính thức xâm nhập vao VN, cho tới khi dung bạo lực cưởng chiếm được toan thể que hương.

    Để chia chung tội danh thien cổ đa làm hủy hoại đất nước Lạc Hồng suốt bao năm qua, Việt Cộng đểu cáng, đa lôi bọn việt gian VNCH, từng giúp giặc đâm sau lưng người lính miền nam , vao chung xuồng, tung he ca tung bọn ăn chén đá bát nay khi viết lại lịch sử cận đại bằng chủ thuyết Mác-Le cộng với những huyền thoại hoang tưởng, về cái gọi la chiến thắng ba đại đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ..

    Trong khi đó, ngan thảm kịch vĩ đại, vạn oan khi&ec?c;n tột cùng, núi xương, sông máu va những cơn giông bảo nước mắt của triệu triệu nạn nhân cộng sản trong bao năm qua, bị chế độ độc tai đang trị cung những trí thức không tim óc tiếp tay, chôn dấu vui dập một cách tận tuyệt trong đáy mộ thời gian.

    Nhưng lịch sử vốn vô tình và rất công bằng, nen nhiều trí thức buổi trước đa ồn ao ca tung Việt Cộng, nay vi lương tâm va tren hết la sự thật, phải thay ngoi bút để viết lại lịch sử, lôi ra ánh sáng những uẩn khúc bi kịch , lột trần những huyền thoại của đảng cộng sản VN. 1968-2002, bao chục năm qua nay cũng đa đủ để khai quật nấm mồ lịch sử về cuộc thảm sát của Việt Cộng , ma nạn nhân đa số la dân chúng vô tội , trong trận chiến tết Mậu Thân 1968 tại Huế.

    Theo nhận xét cuả học giả Nguyễn Hiến Le thi muốn viết lịch sử, phải sống cung lịch sử ít nhất một thời gian. Do tren hiện có một số lớn nạn nhân sống sót sau thảm kịch Mậu Thân Huế 1968, đa quả quyết thủ phạm chính cuộc tan sát da mang lúc đó la những thanh phần trong cái mặt trận Lien Minh Dân Tộc Hoa Giải do Ha Nội dựng len tại Huệ vao ngay mồng ba tết MT(1-2-1968) gồm Le văn Hảo, Hoang phủ ngọc Tường, Hoang phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đoá, Đao thị Xuân Yến, Hoang phương Thảo...

    Bia đá trăm năm có thể bị huỷ diệt bởi con người và thời gian, lịch sử cũng vậy có thể cũng bị thay đen đổi trắng bởi bọn cầm quyền va đám bồi bút vô loại nhưng bia miệng thi không bao giờ bất biến bởi chúng la những tác phẩm vô hinh không chữ nghĩa.

    Sau năm 1975, hầu như bọn phản tặc VNCH đều bị Ha Nội cho ra ria, trong số nay có anh em nha Hoang Phủ.

    Con người du có trái tim cao su hay nhân tạo, đôi lúc trong một thoáng bâng quơ nao đó. cũng tịnh tâm xúc động về tội ác của minh, phương chi Hoang Phủ Ngọc Tường lại la một trí thức, giáo sư, vương tôn công tư, du được sinh ra vả sống tren đầu hang triệu triệu người lầm than đen đói VN, nen Ông chắc cũng hang đem sám hối về tội phản quốc va sát nhân của minh đối với đồng bao vô tội, rồi tủi phận, rồi bứt rút , cuối cung tâm tư đa tuôn hết trong thi phẩm " Người hái phu dung ", ăn năn thương tiếc tuổi hoa nien thơ mộng khi chưa lầm đường theo giặc giềt hại dân tộc minh :

    "Ta tìm lại trong hình hai hóa bướm
    Chút tự do quả thực tr&ec?c;n đời .
    Rủ sạch hết đam me hoang tưởng
    Nuí thông nhiều ta hay rong chơi".

    1-HUẾ, CỐ ĐÔ TRONG DÒNG LỊCH SỬ VN :

    Tỉnh Thừa Thien nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 la 1.045.134 người với các quận Phong Điền, Quảng Điền, Hương Tra, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới va Nam Đồng. Tỉnh Lỵ la thanh phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209.043 người.

    Theo từ nguyen, Huế là do Hoá tên nôm của Thuận Hóa đọc trại ra nhưng đến nay vẫn chứa tim được xuất xứ, ngoai ten Huế được đề cập lần đầu, trong bai văn viết bằng chữ nôm " Thập giới cô hồn quốc ngữ văn" của đại đế Le Thánh Tôn (1460-1497). La cố đô của nha Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp va thơ mộng, mang nhiều sắc thái tieu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN, nen trong hội nghị lần thứ 17 tại Catagenna nước Columbia, vao tháng 12-1993, tổ chức UNESCO của LHQ , đa công nhận Huế la di sản văn hóa của nhân loại cần bảo tồn.

    Nghĩ về Huế, du la địa phương hay kẻ viễn khách , ai cũng đều ưa thích nhưng công trinh kiến trúc lịch sử cung điện va lăng tẩm của các tien vương nha Nguyễn. Kinh thanh Huế do vua Gia Long cho khởi công xây cất từ năm 1805 mai tới năm 1838 đời vua Minh Mạng mới xong.

    Đây là một toa thanh hình vuông, , mỗi cạnh 2.223m, bề cao 6, 60m, chân thanh có hao sâu 4m, phía đông nam sát bờ sông Hương nhin về phía trước la núi Ngự Binh. Ngoại thanh hướng bắc có pháo đai Mang Cá, ngoai ra con có 10 cửa chính với những vọng lầu cao ngất, dung để ra vao.

    Tòa thanh được kiến trúc độc đáo, từ kiểu Vau ban của Pháp cho tới nghệ thuật xây cất Á Động, biểu hiện nét hoanh tráng, lộng lẫy nhưng không kém phần thơ mộng trang đai từ vách thanh, vọng lầu, cửa ngọ môn..cho tới đền đai cung các được chạm trổ, đieu khắc hai hoa trong cảnh trí thien nhien tuyệt diệu.

    Ngược dong lịch sử, từ năm 1366 Huế đa la thủ phủ của Đang Trong, tức la hai Châu Ô, Rí do vua Chế Mân cuả Chiem Thanh, dâng cho nha Trần lam sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Đại Việt, từ đó trở thanh đất Thuận Hóa.

    Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ la một phần công trinh của cố đô trong đống gạch vụn do Việt Cộng va bọn Việt Gian VNCH tan phá vao Tết Mậu Thân 1968. Ngoai ra Huế con nhiều nét tieu biểu khác như Chua Thien Mụ, cầu Trường Tiền, Chợ Đông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hang phượng vỹ nở rộ mỗi độ he về, nuí Ngự Binh trước tron sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong, hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngan va Phú Văn Lâu trơ gan cung tuế nguyệt.

    Nói tới Huế để nhớ về những hinh ảnh nổi bật dịu dang của người dân đất thần kinh như mái tóc thề, ta áo dai trắng, chiếc nón bai thơ, những giọng ho, câu hát..tất cả la những nét đẹp lam Huế mien viễn sống với sông núi thời gian.

    Đến Huế để ăn những món vương giả cũng như binh dân tính hơn 600 món vừa chay, vừa mặn, vừa cháo, vừa che kể cả bánh, mứt va đủ thứ dưa. Đến Huế đâu quen món bún bo gio heo cọng to rất cay, rồi thi bánh khoái nơi cửa Thượng Tứ, chiều tối đi ăn cơm Âm Phủ, la thứ cơm thập cẩm đặc biệt với món dưa gan lam món chua rất ngon.

    Cũng đâu quen được cơm hến bến Cồn, một hương vị đặc thu của Huế, giống như nem chua An Cự, me xửng va ốc gạo bến Cồn, mực Thuận An va so huyết Lăng Cô.

    Cuối cung nhớ Huế là nhớ đến công trình mở nước vĩ đại của các Chúa Nguyễn Hoang, Sải Vương, Hiền Vương, Phúc Chu, Phúc Trú..cho ta một giải giang sơn gấm vốc tới tận mũi Ca Mâu no giau để con cháu về sau một đời sung man.

    Những đấng Tiên Vương công đức va sự nghiệp ngất cao như núi tren, từ khi VC len nắm quyền, đa bị chúng huỷ diệt, để danh công, danh tiếng va danh địa vị độc tôn yeu nước trong dong sử Việt.

    Từ năm 1967, Ha Nội đa quyết định tổng tấn công VNCH vao những ngay hưu chiến Tết Mậu Thân 1968. Trong số 44 tỉnh, thị tại miền nam bị đột kích, thi Sai Gon va Huế la quan trọng hơn cả.Vi trại Lực lượng đặc biệt A-Shau rút đi, nen thung lũng A Shau bị bỏ ngo va VC đa lợi dụng dịp nay để chuyển một số lớn bộ đội vao tấn công cố đô với sự dẫn đường chỉ lối của đám Việt Gian VNCH tại Huế .

    Trận chiến mở man vào sáng mồng hai Tết, nhằm ngay 31-1-1968, bằng hai cánh quân : Đoan 6 gồm các tiểu đoan đặc công K1, K2, K6 va K12 từ phía bắc ben tả ngạn sông Hương, tấn công BTL.SD1BB tại đồn Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Đại Nội. Đoan 5 gồm các tiểu đoan K4A, K4B, K10 va K21 từ phía nam, hửu ngạn sông Hương , hợp với Thanh đội tấn công các cơ sở hanh chánh phía nam. Ngoai ra con có Đoan 9 gồm hai tiểu đoan 416, 418 hợp với một đơn vị mang ten Đường 12, tấn công mặt tây.

    Cũng nói thê;m la VC đa lợi dụng những xáo trộn tại Huế trong các năm 1965, 1966, xâm nhập hoạt động cũng như móc nối dụ dổ một số học sinh, sinh viện, quá me thầy ma phản bội lại VNCH.

    Thật ra mặt trận quan trọng nhất của VC ở Huế la mặt trận chính trị, vi vậy Ha Nội bất chấp máu xương của cán binh va thường dân vô tội, ra lịnh cho đám tan binh phải cố thủ trong Đại Nội trong thực trạng bi thảm tuyệt vọng bởi các vong vây của quân lực Hoa Kỳ va VNCH.

    Phụ trách công tác tổng khởi nghĩa, để lập chính quyền cách mạng ở Huế la Hoang kim Loan va Hoang Lanh, đa vao nằm vung từ lâu trong nha một giám thị trường Quốc Học la Nguyễn Đoá. Ngoai ra con có Nguyễn trung Chính, Nguyễn hửu Vân (giáo sư trường Âm nhạc kịch nghệ), Phan Nam, Nguyễn Thiết.

    Ngay 14-2-1968 đai VC phát thanh tại Ha Nội cho biết đa lập xong chính quyền cách mạng tại Huế do Le văn Hảo lam chủ tịch, con Đao thị xuân Yến va Hoang phương Thảo lam phó. Ngoai ra con có cái Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ va Hoa binh được Ha Nội nặn ra ngay mồng ba Tết ( 1-2-1968 ) cũng do Le văn Hảo, tiến sĩ giảng sư về nhân chủng học tại Đại Học Huế va Sai Gon lam chủ tịch lien minh.

    Theo Hảo vi trốn lính, nen 1953 qua Pháp du học va tiem nhiểm chủ nghĩa cộng sản của Trần văn Khe, Nguyễn khắc Viện, nen vao các năm 1965, 1966 du đang sống trong cảnh giau sang, chức trong lại được trốn lính nhưng vẫn tán tận lương tâm, theo VC nằm vung la Hoang phủ ngọc Tường va Tôn thất Dương Tiềm vao MTGPMN va ra bưng cuối tháng 12/1967.

    Trong Liên Minh Ma này còn có Hoàng phủ ngọc Tường, Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đoá, Hoang phủ ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân..Tóm lại mặt trận được chỉ huy tổng quát bởi Le Minh, Trưởng ban an ninh khu ủy Trị Thien, con Tống hoang Nguyen va Nguyễn đinh Bảy Khiem tho lo về phần thủ tieu, giết người vô tội tại Huế. Theo Bảy Khiem , chính Y đa giết rất nhiều sĩ quan va cán bộ, công chức VNCH bị kẹt tại Huế, cung các giáo sư người Đức dạy tại Đại học Y Khoa, qua chỉ điểm của VC nằm vung va sau nay Le Minh lẫn Bui Tín đều xác nhận Việt Cộng đa tận tuyệt tan sát vô nhân đạo đồng bao vô tội tại Huế vao Tết Mậu Thân 1968. Ngay từ đầu, nhờ lợi dụng dịp hưu chiến, nhiều đơn vị cho các quân nhân về nha ăn Tết, nen VC đa chiếm được hầu hết các cơ sở hanh ch1nh, khu Dại Nội, chợ Đông Ba, cửa Thượng Tứ, An Hoa, Chánh Tây..ngoại trừ BTL.SĐ1BB tại đồn Mang Cá, cơ sở MACV, Tieu khu Thừa Thien, Đai phát thanh, Trường Kiểu Mẫu va cầu tau Hải Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát. Ngay mồng ba Tết 1-2-1968, một ngay sau đó, Chiến đoan Du với 2 tiểu đoan 2, 7 va chi đoan 2/7 từ phía bắc vao giải vây Huế. Hai đại đội TQLC cùng 4 chiến xa M48 trong Chiến đoàn X-Ray đóng tại Phú Bai cũng về Huế tăng cường phong thủ MACV.

    Chiều ngay mồng 4 Tết, TĐ 9 Du được trực thăng vận vao chiến trường, từ đây cho tới ngay 12-2-1968 , cuộc chiến trở nen khốc liệt bạo tan với sự tổn thất nhân mạng rất cao của cả hai phía. Cung ngay đó, Chiến đoan A Thủy quân lục chiến VN gồm các tiểu đoan 3, 4, 5 thay thế chiến đoan Du, tiếp tục giải tỏa áp lực VC tại sân bay Tây Lộc va Đại Nội.

    . Ngày 19/2 TQLC mở chiến dịch Sóng Thần 739/68. Ngày 22/2 hai tiểu đoan 21 va 39 BDQ được tăng cường tại Huế va VC cũng bắt đầu tháo chạy. Ngay 25/2/1968 Biệt động quân chiếm lại Khu Gia Hội, chấm dứt chiến cuộc tại Huế với đổ nát, đieu tan, nha cửa, cầu cống, cây cối, đường xá gần như tử địa với xác người nằm la liệt đa sinh thối. Tất cả chỉ con la sự tan nhẩn, the lương, từ ban tay đẳm máu của VC va bọn Việt gian mang đủ loại mặt nạ gây nen.

    Tóm lại không còn lời nào để đủ viết về Huế đang quằn quại trong lửa máu, giống như những nhịp cầu Trang Tiền tren Hương Giang đớn đau gay xập. Hởi ôi sắt thép, gổ đá con biết rơi nước mắt với Huế the lương, trong khi đó lại có không ít người thản nhien đứng vổ tay cười.

    2-THẢM SÁT MẬU THÂN TẠI HUẾ:

    Những hanh động dá man nhắm vào dân lành tại Huế , làm nhớ tới Nga Sô tan sát hơn 5000 hang binh Ba Lan phần lớn la sĩ quan vao tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thanh phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tang trong máu óc của cọng sản, du chúng la ai chăng nửa, tất cả đều giống nhau vi cung chung một tổ, một lo.Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế la thanh phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vi bị VC chiếm đóng lâu dai nhất.

    Rieng người Huế sỡ dĩ bị tan sát da mang, theo một số nhân chứng , do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vung địa phương vi thu oán nhau ma trả thu, rồi lại được tự do đi lại trong thanh phố nen tự do hanh động, nhất la trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nha, lôi từng người ra bắn giết theo ư muốn, đúng với kỹ thuật bắt va thủ tieu theo KGB va Maoit.

    Đọc lại những trang sử của VNCH từ 1963 tới tháng 4-1975, ngay nay cả thế giới đều công nhận la VC thua VNCH tren mặt trận quân sự nhưng ngược lại chiếm được miền nam bằng thủ đoạn chính trị, qua phương cách xách động quần chúng, đồng thời vin vao đó ma nặn ra những mặt trận MA như Giải Phóng Miền Nam năm 1960, rồi sau đó la Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc do phần lớn cọng sản nằm vung lanh đạo như Le Khắc Quyến, Le Tuyen, Tôn Thất Hanh, Le văn Hảo, Hoang Phủ Ngọc Tường, Hoang Phủ Ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm...

    Trong số các hung thần can dự tới bửa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vao Le văn Hảo, Hoang Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan va Nguyễn đắc Xuân. Năm 1966 khi con la một sinh vien, Nguyễn đắc Xuân từng tổ chức đoan "Phật Tử Quyết Tử" quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC va trở lại cố đô vao Tết Mậu Thân, phụ trách đội "Công tác thanh nien" va khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi la đoan nghĩa binh...

    Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa, trái lại bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá, Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thien, Bến Tau, Phú Bai..Bắt đầu ngay mồng ba Tết, QLVNCH va Hoa Kỳ phản công, ngay 7-2-1968 VC giựt xập cầu Trường Tiền. Ngay 15-2 Quân Ủy cọng sản tại Ha Nội ban lệnh cho VC tử thủ tại Huế, nhưng tinh hinh cang lúc cang bi đát cho VC nen Le Minh muốn rút quân. Ngay 23-2 VC bị đẩy ra khỏi Huế, lá cờ VNCH lại tung bay tren kỳ đai ở Phú văn Lâu.

    Nói chung cọng sản tàn sát đồng bao Huế nhiều nhất la tại khu dân cư Gia Hội vi vung nay bị VC chiếm lâu nhất từ ngay mung 2 Tềt đến 22-2-1968 mới được Biệt Động Quân giải tỏa, bởi vậy giặc va Việt gian mới có cơ hội giết nhiều đồng bao vô tội.

    Cho đến nay không ai biết ch1nh xác số người bị VC tan sát tại Huế la bao nhieu nhưng căn cứ vao thống ke số hai cốt tim được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh duổi khỏi thanh phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chua Theravada, Bải Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chua Từ Quang, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phu Lương , Phú Xuân, Thượng Hoa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng va Khe Đá Mai..tổng cộng đếm được 2326 xác.

    Về câu hỏi tại sao VC tàn sát thường dân vô tội, đến nay Ha Nội vẫn tránh né, con Vo nguyen Giáp thi đểu giả hơn khi bị các kư giả ngoại quốc phỏng vấn sau Tết Mậu Thân, đa trả lời la Bắc Việt không hề biết vi đó chuyện của MTGPMN va VNCH.

    Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thi động cơ cọng sản tan sát dân chúng tại Huế, ngoai một lư do nhỏ la sự trả thu do hờn oán trước đây giữa cá nhân va cá nhân, thi tan sát theo kế hoạch phá huỷ va lam rối loạn bộ máy cầm quyền của VNCH, điều nay đa được ghi lại trong một tai liệu cuả cán bộ VC , bị SĐ1 Không kỵ Hoa Kỳ bát được tại tỉnh Thừa Thien ngay 12-6-1968 .

    Tàn sát để khủng bố va cảnh cáo đe dọa dân chúng đừng tong quân chống cộng. Tan sát tín đồ Thien Chúa Giáo để chiarẽ sự đoan kết tại miền nam, tạo sự nghi kỵ giữa các tôn giáo cho tới ngay VC cưởng chiếm dược miền Nam mới chấm dứt vi VC độc tai đảng trị, cấm biểu tinh xuống đường, nen bốn ben bốn phía binh đẳng chịu sống chung hoa binh, nen gần như không thấy tự thieu, tuyệt thức va ra báo chống đối, beu xấu, hạ nhục chính quyền như cơm bửa thời VNCH.

    Tan sát dân chúng để gây tiếng vang với thế giới.

    Trong dong Việt Sử, từ thời Vua Hung dựng nước cho tới ngay nay, chỉ thấy có ghi lại một cuộc ran sát tập thể tôn thất nha Hậu Lư do Trần Thủ Độ gây ra vao năm 1232 bằng thủ đoạn cho giựt xập nha trai đan , giết chết chừng vai chục người trong tôn thất nha Lư nhưng hanh vi tren du đa thuộc vao quá khứ, đến nay vẫn bị đời nguyền rủa, du mặt thật của lịch sử, nếu không có Trần Thủ Độ sẽ không có Trần Thái Tông quyết chiến chống quân Mông Cổ xâm lăng Đại Việt lần thứ 1 với câu nói vang danh thien cổ :" đầu Độ chưa rơi, không thể đầu hang giặc Mông".

    Cũng qua dong Việt sử, ta thấy kinh thanh Thăng Long từ lúc được Vua Lư Thái Tổ chọn lam kinh đô vao năm 1010 cho tới thời Pháp thuộc vao năm 1884 đa 10 lần bị giặc Tau, giặc Chiem cả Pháp tan phá chiếm đóng va kinh thanh Huế thất thủ năm Ất Dậu 1885 nhưng tuyệt nhien không thấy nói tới quân ngoại quốc tan sát người Đại Việt khi lam chủ thanh.

    Tóm lại du bị kết tội như thế nao chăng nữa, người Tau, Chiem, Pháp cũng con nhân đạo hơn VC trăm ngan lần, về cung cách đối xử với thường dân trong chiến tranh.

    Đem các biến cố năm1885 tại Huế va 1946 ở Ha Nội để so sánh với Mậu Thân 1968 tại Huế , bổng thấy lạnh minh về những lời chạy tội của ten Đại Tá VC Bui Tín, khi trả lời về cuộc tan sát của VC đối với thường dân tại Huế năm 1968, theo nhận xét của Nguyễn đức Phương trong Chiến Tranh toan tập, thi Bui Tín không biết gi về qui ước Geneve danh cho tu binh chiến tranh, hoặc biết nhưng giả bộ ngây thơ không biết để có lư do bao chửa sự tan ác da mang của cán binh VC va biết them về quan niệm của Ha Nội, luôn qui chụp tất cả những ai chống đối họ, đều bị gán la tu binh với kết quả như Bui Tín nói la phải được chết để giữ gin bí mật quốc phong.

    Theo Chính Đạo trong "Mậu Thân 1968 thắng hay bại" thi sau khi các mật khu bất khả xâm phạm của VC tại Tam Giác Sắt, các chiến khu C-D bị quân Đội Đồng Minh vá QLVNCH phá tan nát, khiến Nguyễn Chí Thanh trum cộng sản Ha Nội, chỉ huy Cục R đa phải thay đổi chiến lược tại Miền Nam vao tháng 5/1967, là đưa chiến tranh vao thanh phố để cứu nguy cho cán binh va cơ sở VC tại nông thôn đang sắp bị tieu diệt.

    Nhưng rồi Nguễn Chí Thanh đột ngột chết vao mua thu năm đó va cái chết của Y tới nay vẫn chưa được đưa ra ánh sáng vi có quá nhiều nguồn tin va các cách chết khác nhau từ VNCH, Bui Tín, Hoa Kỳ va Xuân Vũ , một cán binh VC hồi chánh từng sống hơn 2000 ngay tại Củ Chi va rất thân cận cũng như am tường chuyện thâm cung bí sử cuả vua chuá VC tại Cục R.

    Do tren Le Duẩn ra lệnh cho Vo Nguyèn Giáp, Văn Tiến Dũng, Le Đức Thọ, Phạm văn Đồng..cải tiến kế hoạch đột kích của Nguyễn Chí Thanh, thanh tổng công kích va them vao đó la lập một mặt trận ngoại giao chính trị.

    Cũng theo Chánh Đạo , thi việc Trần Độ năm 1968 la Phó chính uỷ B2, phụ trách tinh báo, có địa vị tại cục R rất khiem tốn so với Phạm Hung, Trần nam Trung, Trần văn Tra, Le trọng Tấn..nen du la một trong những cấp chỉ huy trong mặt trận tại Sai Gon vao Tết Mậu Thân 1968, cũng chưa chắc được Quân Ủy Hà Nội thông báo các kế hoạch bí mật trong Đảng va lời tuyen bố không có cơ sở, với kư giả Stanley Karnov năm 1981 rằng phản ứng của Mỹ trong cuộc chiến nay, chỉ la sự may mắn không có dự liệu trước.

    Chỉ vi da tâm xâm lăng cho được VNCH, mà Ha Nội trong cuộc chiến Mậu Thân đa giết hại hang chục ngan người tren toan quốc va chỉ rieng tại Huế lại chôn sống đồng bao, vậy ma tới nay từ Ha Nội cho tới bọn cộng sản tại Huế vân coi như không hề xay ra một chuyện gi va cũng chẳng có ai nhận trách nhiệu, ngoai việc công khai đổ hết nợ máu cho Lê văn Hảo, Hoang phủ ngọc Tường, Hoang phủ ngọc Phan, Nguyễn Đoá, Nguyễn đắc Xuân.

    Năm 1998, ngay giổ chung của gần 100.000 người VN chết trong cuộc chiến cũng là ngay Việt Cộng ăn mừng chiến thắng Mậu Thân, ca tụng bai thơ của Hồ viết chúc Tết đồng thời cũng la mật hiệu cho cán binh tại miền nam mở cuộc tiệc máu.

    Chính Bộ Trưởng quốc phong Bắc Việt lúc đó la Vo nguyen Giáp soạn thảo kế hoạch, Phạm Hùng Ủy viên Bộ Chính trị, chỉ đạo Trung Ương Cục Mien Nam chỉ huy trận tổng tấn công, vậy ma cũng chính Vo nguyen Giáp đa trân tráo dám nói láo với nha báo Tây Phương vao năm 1969 la hoan toan vô can, vô trách nhiệm.

    Đây la một tội danh thien cổ của VC đa gây ra trong dong sử Việt, được các sử gia xếp chung với bốn cuộc tan sát lớn tren thế giới cận đại như vụ quân Nhật tan sát 300.000 người Hoa tại thanh Nam Kinh ngay 13-12-1937, việc Đức quốc xa giết hang triệu dân Do Thái trong đệ nhị thế chiến 1939-1945, kế đến la cộng sản Lien Xô tan sát 5.000 tu binh Ba Lan năm 1940 va Khmer đỏ tan sát hơn 2 triệu dân lanh sau năm 1975 khi chiếm được Campuchia .

    Theo Nguyễn Lý Tưởng, thi những hanh động dã man của Việt Cộng, tại Thanh Nội va Gia Hội, do cái gọi la Tòa Án Nhân Dân được quyết định bởi các chóp bu trong Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình, la Lê văn Hảo, Thích Đôn Hậu, ba Nguyễn Đinh Chi..nhưng chủ chốt va da man tan bạo vẫn la bọn theo phong trao tranh đấu chống VNCH năm 1966, sau đó theo VC va quay về Huế như Hoang phủ ngọc Tường (giáo sư), Hoang phủ ngọc Phan(sinh vien y khoa), Nguyễn đắc Xuân (sinh vien sư phạm), Trần quan Long (sinh vien sư phạm), Phan Chính Dinh hay Phan Duy Nhân (sinh vien)... dẫn an ninh VC như Tống hoang Nhân, Bảy Khiêm.. đi lung bắt bạn be, thân nhân, các thanh phần quân, công, cán, chính VNCH cũng như các đảng phái bị kẹt lại tại Huế. Hiện nay tất cả những bí mật của lịch sử gần như được khai quật trong đó có cuộc thảm sát thường dân tại Huế năm Mậu Thân. Những tội nhân thien cổ ngoai bản án của lương tâm, đạo đức va sự nguyền rủa của đời, nen không ngớt tim đủ mọi cách để biện minh về tội lỗi của minh.

    Năm 1988, trên báo Sông Hương vâ được dịch đăng lại tren tờ Newsweek ở Hoa Kỳ, Đại Tá Bắc Việt Lê Minh, nguyên chỉ huy mặt trận Thừa Thiên-Huế, xác nhận va chịu trách nhiệm về việc tan sát dân chúng Huế nhưng vẫn đưa ra lư do la lúc đó VC đang ở vao giờ thứ 25, nen không kiểm soát được .

    Còn thủ phạm chính Hoang phủ ngọc Tường thi đổ thừa cho cục bộ, địa phương chứ không phải tại đảng, vẫn giữ nguyên ý la miền nam mất vi cách mạng chứ không bị cộng sản quốc tế xâm lăng, va tren hết vao ngay 12-7-1997 Tường công khai chối tội la không tham dự mặt trận Huế, vi lúc đó y đang trốn tại địa đạo trong quận Hương Tra, tỉnh Thừa Thien.

    Còn nhân vật bị bia miệng nhắc tới la Hoang phủ Ngọc Phan..ma người Huế tưởng lầm ? Le văn Hảo hiện đang sống tại Pháp cũng chối tội. Sau rốt chỉ có Hoàng phủ Ngọc Phan va Nguyễn đắc Xuân vi lúc đó gần như la công an, cai tu, chánh án va đao phủ thủ..nen người Huế ai cũng nhận được, vi vậy phải chịu tai tiếng nhơ nhớp muôn đời.

    Ngày nay ai cũng biết Tết Mậu Thân VC thua lớn va Tổng thống Hoa Kỳ la Johnson phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử vi đa cố tinh tạo nen một lỗi lầm nghiem trọng về đạo đức., gây tử vong cho nhiều người có thể tránh khỏi nếu được báo trước sự thật.

    3-HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, KẺ HÁI PHU DU:

    Phù Dung la một thứ hoa chỉ sống được có một ngay, nở vao buổi sáng va tan lụn theo bóng đem tan, thứ hoa phu du mây nổi ma thi nhân thường mượn để ví những đệ tử của nang tien nâu. Hoa phù dung rất đẹp, cây cao chừng hai thước, lá to, hoa phu dung thường có ba mau đỏ, trắng va vang. Hoa phù dung con được ví với sắc đẹp của người đan ba, như trong thơ của Bạch Cư Dị :" Phu dung như diện, liễu như mi ", nghĩa la mặt tươi như hoa phu dung, may lá liễu.

    Trong Kiều có câu " Bạc tinh nổi tiếng lầu xanh, một tay chôn biết mấy canh phu dung.." nhưng thắm thía nhất vẫn la hai câu thơ trong Quan Âm Thị Kính :

    " Phù Dung nỡ để lià cành,
    Giếng sâu nỡ để rơi binh từ đây "

    . Theo triết học, thi kiếp phu du chỉ la một cuộc phong trần không không có có, không nở không tan, lúc có lúc không, tất cả chỉ la phu du trong voi vô thường.

    Thơ văn la biểu tượng của con người, Tố Hửu ban chất chạy theo thời để mưu cầu quan chức, địa vị nen thơ Tố Hửu luôn mang bản chất của một con người đội tren đạp dưới. Cao Bá Quát, Nguyễn công Trứ, Văn Thien Tường, Nguyễn Bá Trác kẻ sĩ gươm đan nửa gánh giang sơn một bầu..cho nen thơ văn luôn thoát tục, ẩn hiện cái hao khí cao ngất của đấng trượng phu.

    Với Hoàng phủ ngọc Tường, chỉ riêng cái tựa của thi tập va ư thơ trong bai " Đua chơi" nhiều lúc người đọc, nếu không biết trước Y la ten phản tặc, gian ác, đem một phần đời va cả danh gía của dong họ tôn quư vui dưới bun nhơ, khi nhẩn tâm theo lệnh VC tan sát dân chúng vô tội., rất dễ bị lầm lạc, vi qua ư thơ, cứ ngở đây la một cao tăng, một thánh nhân hay ít ra cũng thuộc kẽ sĩ ngẩng mặt nhin trời :

    "Ta tìm lại trong hình hai hóa bướm,
    Chút tự do quả thực tren đời
    Rũ sạch hết đam me hoang tưởng
    Núi thông nhiều, ta hay rong chơi"

    Đọc đoạn thơ ngắn trên mới thấy lạ, và cang ngớ ngẩn với câu chút tự do quả thực tren đời" như vật cả một quảng đời từ năm 1963 cho tới 1975, vi ai ma phải bỏ đời, dấn thân vao con đường man rợ, nón tai beo , đôi dép râu, AK, ma tấu va cái lưởi không xương lắc léo lam chuyện đổi trắng thay đen ?

    Đa lam thi phải nhận, phương chi hanh động của minh nay đa thanh một tội danh thiên cổ, ngan đời muơn kiếp, bia miệng bia đời không tha, thi không thể " Rũ sạch hết đam me hoang tưởng " để thanh tien rong chơi tren núi thông.

    Hởi ơi chỉ vi chút phu du cuộc đời, ma phải mang mặt nạ phá đời, chẳng riêng đa hại đời minh, ma con lam cho thế tộc ô danh, nước non tan tác, dân chúng cả nước lầm than khổ lụy " đừng hỏi nửa em ơi, thầy len đường đánh Mỹ" trong lúc đó ben cạnh thầy thi đầy rẫy Nga, Tau, Bắc Han, Cuba, Đông Đức. Có cai ngang trái vô thường, la nếu như Le Khắc Quyến, Le văn Hảo, Le Tuyen, Nguyễn đắc Xuân va anh em nhà Hoàng Phủ..vi thuộc loại dân chúng bị chế độ VNCH đe ép phải sống cung khổ mất tự do, nen mới theo VC để may ra xoay bạch ốc thanh lâu đai, ném thanh y tim gấm vóc, cái nay ai nấy đều ở tren mức thượng thừa, vậy thi lam giặc để lam gi đến giờ nay một chút tự do cho minh, cho đời vẫn chưa có,

    Năm 1971, khi ma chiến trường mền nam bước vào giai đoạn tan khốc, Ha Nội cần máu xương thanh nien nam nử để đốt rụi Trường Sơn, mở lối vai Nam, nen cũng cần tung he một số phản tặc của VNCH đa chạy theo , vi vậy mới phong cho Hoang phủ Ngọc Tường len chức nha thơ VC va cho đai phát thanh phổ biến bai thơ " Tôi đi tren những con đường rừng củ " cũng nhờ vậy ma Tường đa lọt vao mắt xanh của Lâm Thị Mỹ Dạ, cùng khóa với Dương Thu Hương tại trường viết van Nguyễn Du ở Ha Nội năm 1972.:

    "Hai mươi năm dai trên trán mẹ
    Những con đường rừng vẽ nét ưu tư ".

    Thơ hay, đáng tiêu biểu cho một con người , đúng ra la một cái xác biết đi, sống như đa chết vi :" hai mươi năm biết ai con nhớ ? nhưng từ đó cây hoang rừng gia " Đó mới la nổi khô của một đời người, người ta quen thi minh tiếc, người ta nhớ minh sợ, đăm chieu, nghẹn nghẹn sống lam sao nổi đây hởi trời ?

    Quả thật suốt phần đời con lại, Hoàng Phủ ngọc Tường, không bao giờ thoát nổi ám ảnh của tội lỗi một thời gây ra, đâu cũng la một địa chỉ buồn, nời nao cũng gặp cố nhân, những người ma Hoang phủ ngọc Tường trong một phút phu du, đưa họ về ben kia thế giới :

    "Những chiền bến Ngự dâng mưa
    Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
    Tôi ra mở cửa đón người
    Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoai hành lang".
    Tất ca giờ chỉ con lại bóng tối, thời gian để hoa phu dung tan lụn, tất cả cũng đa cạn tau khi cái sân si biến vụt vao coi không không.

    Hoang phủ ngọc Tường luôn nuôi ảo tưởng hảo huyền la lưu lại với đời tuổi ten, nhưng tiếc thay lầm đường lạc nẽo, theo kẻ ác lam ác, rốt cục một minh thui thủi đi về trong cỏi phu du, sám hối cho tới chết vẫn chưa yen hồn ./- Mường Giang

    ***********************************

    THƯƠNG QUÁ PHẬN BEO NGƯỜI LÍNH TRẬN NHỮNG NGÀY LÊ LẾT KIẾP PHẾ BINH

    MƯỜNG GIANG

    Những ngày tháng tư năm đó, không biết sao ma trời bổng đổ mưa thật sớm va lớn hơn bao giờ hết. Mưa lam ngập những chiếc hố tránh đạn va giao thông hao của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Thiết, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Bien Hoa va Sai Gon.

    Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người va xác của những cánh hoa học tro, lam nhuộm hồng áo người lính va đồng bao chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mu đạn pháo.
    ‘ Bồ đao mỹ tửu, dạ quang bôi
    dục ẩm tỳ ba, ma thượng thôi
    tuư ngọa sa trường, quân mạc vấn ?
    cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi ‘

    Bốn câu thơ cổ trong bài ‘Lương Châu Từ‘ của Vương Han (687-726), tự Tử Vũ, người Tấn Dương, tỉnh Sơn Tây, cũng la một trong những thi gia nổi tiếng đời nha ?ường, đa nói len thân phận của người lính chiến, sống va chết không có bien giới, nen mấy ai dám nghỉ tới chuyện trở về ? Va giọt mưa nao đây, vừa lăn tren má , đa khiến cho người lính gia bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến củ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đao đấp vội vang, để vui bạn vữa nga gục va những thương binh ren xiết, đang chờ cấp cứu.

    Tất cả đa thành cổ tích. Giờ chỉ con biết ngồi đây ma nhớ lại những ngay xa củ. Chúng ta, tất cả đều la những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ nay, nen đa cung nối vai lần lượt bước len những gian lửa đỏ. Cuối cung, kẻ chết thi bị dầy mồ, tan xác, con người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thi cũng lết le phận beo trong vung giặc chiếm, để gục đầu thương hận, ma khóc cho que hương vi đâu máu xương chất ngất, vi đâu ma kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ ben đường.

    Tất cả chỉ con la kỷ niệm trong nhớ , vao những ngay đầu đời, mẹ bỏ con trong gánh, dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh va Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra đời va trưởng thanh trong tiếng súng, cung với bom đạn lam rách vở da thịt của que hương. Rồi cũng vi người, vi ‘ tang bồng hồ thỉ, nam nhi trái, ma giôc ngước cả tuổi trẻ, đời trai, vao cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính minh.

    Đất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dai hờn hận, đa day vo người lính miền Nam , trong mưa bom đạn xéo trung hằng Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tu khổ sai của VC, ai nấy cũng đả trả xong cái nợ ‘ da ngựa bọc thây ‘, tủi nhin từng trang lịch sử của nước nha, bị giặc thu bôi nhọ va khép kín.

    Trưa 30-4-1975 SaiGon thất thủ, miền Nam VN từ ben nay cầu Hiền Lương, tren sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17, tới mũi Ca Mâu, đa chính thức thuộc về lanh thổ Xa Hội Chủ Nghĩa, đệ tam quốc tế cọng sản, có tổng đai ở tận Nga Sô Viết. Cũng từ giơ phút đó, khi ma chiếc mặt nạ hoa binh của người cọng sản đa cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng va hung hiểm, thi cũng la lúc, đồng bao mới sực tỉnh va thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đa muộn rồi, họ đa nga gục , không phải tại chiến trường vi đạn pháo của VC, ma ngay tren he phố Huế, ?a Nẳng, Phan Thiết, Sai Gon.. bởi chính những vien đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngoi bút, của chính phe minh.

    Ai chẳng một lần về với đất ? khác chăng la sớm hay muộn, vinh với nhục va sống chết sao cho ư nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất la những người lính chưa chết nhưng coi như đa chết vi thương tật chiến trận va những vết thương long. Họ không chết ma chỉ bị thương nặng va tất cả đa gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Cham, Phan Thiết, Xuân Lộc.. va ngay tại Sai Gon, vao lúc ma cây cột đen cũng muốn chạy, để khỏi bị VC giết chết. Họ ở lại lam vật hy sinh, cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thu, để kiếm them một chút thời gian, một bầu trời an toan, một dong sông lặng sóng, giúp cho mọi người , từ dân tới lính, binh yen di tản.

    Nay thi từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi que nha, bỏ lại những bóng ma của quá khứ va những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang le lết phận beo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh, chẳng có gi mới lạ, vẫn lấy nước mắt lam mưa, rửa mặt hằng ngay.

    Buổi trước, khi VC tran vao, họ bị bỏ lại ở những quân y viện , lang phế binh, không con đại bang, đồng đội va hậu phương. Bây giờ thi dần hồi chết đói, chết nhục trong thien đang xa nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt Gian va Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, aó gấm về lang, ma trong dong người đổi đời nay, không lam sao ma đếm hết, những cấp chỉ huy va đồng đội củ.

    ‘ Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngả, đoạn trường. Có lam dân thời ly loạn, mới biết được thế nao la mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tinh, héo úa con thua cây cỏ. Có la người thương phế binh, sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. The thiết tận cung la đời của người lính về chiều lại con mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cung khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phang của cuộc đời ?

    ‘ ngay xưa, la lính vi đời chiến đấu
    la cầu đem người sang sông
    hôm nay làm ma cô đơn, gục chết ben vệ đường .. ’ ’

    1-THÂN PHẬN CỦA NGƯỜI LÍNH VNCH :

    Ngay khi VC chiếm dinh Độc lập, vao buổi trưa ngay 30-4-1975, thi tại thủ đô Hoa Thịnh ?ốn, ?ại sứ VNCH la Trần Kim Phương, đa nghẹn ngao tuyen bố trước báo chí Mỹ :’ lam đồng minh với Hoa Kỳ la đi vao tử điạ ‘.Gần ba mươi năm qua, vết thương của người vong quốc, chưa kịp đóng vảy, thi mới đây, vao ngay 29-9-2004, qua chương trinh ‘ No spin zone’ của đai Fox. Một kư giả ten O’Reilly, sau khi ban tán chuyện chính trị của A Phú Han va Iraq, lại kéo VNCH vao cuôc, qua gợi ư :’ Vi Nam VN đa không chiến đấu cho tự do, nen họ không có tự do ngay nay ‘ , Câu hỏi được TT.Bush ‘ YES’ .

    điều nay cho thấy người Mỹ, du la đảng nao chăng nửa, trước sau vẫn không có một chút gi la tự vấn lương tâm, về hanh động bất lương, bất nhơn, bất nghĩa của minh trước đây, khi phản bội một đồng minh, đa từng chung lưng chiến đấu, vi tự do của nhân loại, trước sự nhuộm đỏ của chủ thuyết Mác-Le.

    Thật ra câu trả lời của TT. Bush, nếu cách đây vai chục năm, khi ma nhiều người Mỹ cũng như ngoại quốc, kể cả một ít người Việt Quốc Gia, con bị VC lường gạt, bưng bít, thi họa hoằn thien hạ tin đó la sự thật. Nhưng giờ, những huyền thoại về đánh Mỹ cứu nước của VC đa rơi rớt theo chiếc mặt nạ lam tay sai cho đệ tam quốc tế. ?ồng thời, hồ sơ va bí mật về cuộc chiến ?ông Dương 1945-1975, đa được chính phủ Hoa Kỳ giải mả gần hết.

    Trong lúc đó, suốt bao nhieu năm qua, đa có rất nhiều tác giả lương thiện trí thức ngoại quốc, đa thẳng thắn ca tụng cuộc chiến đấu anh dũng của người lính VNCH, đồng thời không tiếc lời che trách va phe binh người Mỹ la hạng con buôn chính trị, đa vi quyền lợi rieng tư, ma bán đứng đồng minh Nam VN, cũng như họ từng phản bội ?ai Loan ngay trước.

    Do tren sự suy đoan của TT Bush :’ vi không chịu chiến đấu, nen để mất miền Nam ‘, chắc la không được mấy người quan tâm, trong đó có các cựu quân nhân VNCH, hiện đang giúp them phiếu, trong kỳ bầu cử tháng 11 sắp tới. ?ể ông Bush có cơ hôi, thắng Kerry, kiếm them một nhiem kỳ tổng thống. ?ó la sự thật ro rang ma nay ai, kể cả VC cũng đều biết ,nen đâu con ai dám lấy thúng úp voi ?. Nam VN mất không phải vi người Miền Nam không chịu chiến đấu, ma chính do người Mỹ, đa dung viện trợ, để bó tay người lính đang chiến đấu va sắp chiến thắng giặc thu.

    Chính TT Nixon va Ngoại Trưởng Kissinger, đa bóp chết hoa binh va tự do thật sự của Nam VN đa có, khi đem bán đứng tự do đó cho VC, để rút quân về nước, đổi lấy một nhiệm kỳ tổng thống. Cũng câu chuyện khôi hai tren, mới đây DB Loretta Sanchez , đa phát biểu tren chương trinh ‘ The O’Reilly Factor ‘, khẳng định lời phát biểu của TT.Bush , đả sai lầm va không đúng sự thật. Ông con lấy lam tiếc, la trước đây, TT .Bush đa không chịu tinh nguyện sang chiến đấu tại chiến trường VN, nen đa không biết gi hết về cuộc chiến vừa qua, trong đó đa có hằng triệu quân dân Nam VN, chiến đấu ben cạnh quân đội Hoa Kỳ. Một số con sống sót sau cuộc chiến, đa tới Mỹ tị nạn cọng sản, va họ vẫn tiếp tục chiến đấu không ngừng nghĩ, để danh cho được tự do, dân chủ chân chính tại que hương VN, ma chính Hoa Kỳ đa trực tiếp bóp nát trước năm 1975.

    Những thanh quả đạt được khắp nẻo đường hải ngoại, như chính quyền công nhận lá cờ vang biểu tượng của quốc dân VN, tượng đai vinh danh chiến sĩ Việt-Mỹ,sự hinh thanh các cộng đồng lớn mạnh của người Việt tị nạn, các vụ biểu tinh chống Trần Trường trương cờ máu, ảnh quỷ va các phái đoan VC cũng như kinh tai. Ngoai ra sự ngồi lại của tập thể cưụ chiến binh VNCH, bao gồm cả lực lượng cảnh sát, cán bộ xây dựng nông thôn va thế hệ hậu duệ, suốt một năm qua rất tốt đẹp... ?ó không phải la sự tranh đấu của người Việt hiện nay, để đoi lại tự do dân chủ của minh, bị chính Hoa Kỳ dung viện trợ tước đoạt từ mấy chục năm về trước.

    Hoa Kỳ đa một minh một chợ, dan dựng len, cái gọi la hiệp đinh Ba Le-1973, ngưng chiến va hoa binh cho VN. Vi đa có chủ đích, nen hiệp định nay, chỉ có hai điểm đem lợi ích cho họ,được thi hanh nghiem chỉnh. ?ó la việc sợ quân Mỹ phải triệt thoái hết về nước, theo đúng hạn chót đa ấn định vao ngay 29-3-1973 va quân xâm lăng Bắc Việt , được Hoa Kỳ cho phép ở lại Nam VN.

    Chỉ điều khoản thứ hai nay, đủ chứng tỏ Hoa Kỳ không bao giờ muốn kư hoa ước với cọng sản, để thực thi sự ngưng chiến va tim kiếm hoa binh cho VN.

    Trái lại ngụy tạo, hiệp định Ba Le năm 1973, để có cơ hội công khai va hợp pháp, viết len bản án tử hinh của VNCH, ngay từ lúc kư. Hanh động bất lương của một sieu cường, đa khiến cho bao chục triệu người Nam VN, chẳng những đa tan nha nát cửa, gia đinh ly tán, ma con bị hủy diệt nền tự do dân chủ, ma họ đa dung xuơng máu, huyết lệ của chính minh, để bồi đắp, xây dựng va duy tri lien tục từ 1955 đến cuối tháng 4-1975. Cũng vi sự gian manh tren, từ đó uy tín của nước Mỹ không con được thế giới tự do tin tưởng va mong cậy kết giao hợp tác.

    đa thế, hai vị TT của Mỹ là Nixon va Ford, con trắng trợn, nhổ nuốt những lời hứa hen đa được quốc hôi, chính phủ nước minh kư nhận ban hanh, đồng thời với những thơ rieng mực đen giấy trắng , lien tục gởi cho TT Nguyễn Văn Thiệu, rằng la hay kư hiệp định, để tiếp tục có viện trợ. Con nếu VC bội ước, thi Hoa Kỳ sẽ lập tức dội bom, cũng như trở lại tức khăc, bảo vệ VNCH. Nhưng tất cả chỉ la cuội, chẳng những Hoa Kỳ ngoảnh mặt trước sự sự công khai vi phạm hiệp ước ngưng bắn của VC , ma con tan nhẫn cúp hết viện trợ đa hứa, danh cho QLVNCH có phương tiện, chống lại cuộc xâm lăng Nam VN của khối đệ tam cọng sản quốc tế.

    Thực chất cuộc chiến VN tới nay vẫn la một đề tai được tranh luận dai dẳng, chính TT. Bush khi tuyen bố ‘ Yes’ tren đai Fox, về một vấn đề gai gốc ma bản thân chưa biết trọn, chứng tỏ la Hoa Kỳ, du đa tốn nhiều máu xương tiền bạc về cuộc chiến đó, vẫn chưa hiểu thấu cái chiến tranh, ma Cọng sản gọi la ‘ chiến tranh cách mạng ‘, đa đánh bại người Mỹ va thế giới tự do, tại hai mặt trận Trung Hoa lục địa va Nam VN. Thực chất cuộc chiến đó, nay qua thời gian va những khai quật của lịch sử, cho thấy đó chỉ la một thứ chiến tranh vừa du kích lẫn qui ước, trong mục đích dấy loạn va khuynh đảo thế giới, bằng hanh động phi nhân man rợ, chứ không có gi la cao sieu huyền diệu, như một số triết gia trí thức Tây Phương va Hoa Kỳ, từng ca tụng đien cuồng trong quá khứ. Người Mỹ vi không thực tâm chiến thắng tại trận địa, trong khi có đủ điều kiện để chiến thắng, đó mới chính la thực chất của cuộc chiến ?ông Dương.

    Nói chung, qua kinh nghiệm xướng máu của chính người Việt Quốc Gia, trong suốt 70 năm tranh đấu, cho thấy Hoa Kỳ, Thế Giới Tự Do cũng như Nam VN, đa thua VC qua cuộc chiến, chỉ một lư do duy nhất . ?ó la sự hen nhát của tập thể, vi sợ va ích kỷ, nen đa vô tinh hay cố ý, yểm trợ đắc lực cho Bắc Việt các nguồn tinh báo, nhân lực va tiếp tế. Một sự kiện lích sử, ma không hề thấy tại các nước bị chia đôi, sau thế chiến 2 như VN, ?ức, Triều Tien va ?ai Loan. Do tren, Nam VN không bị cọng sản cưởng chiếm, cũng la chuyện lạ.

    Vi đâu phải mất nước ? một câu hỏi đa đe nặng trong tâm trí người Việt sống sót sau cuộc chiến. Bởi chính họ đa có mặt hay thật sự chứng kiến toan bộ cuộc chiến, từ đầu cho tới trọn ngay 30-4-1975, khi Dương Văn Minh ra lệnh Nam VN buông súng đầu hang. Ro rang trong suốt cuộc chiến từ năm 1955-1975, du có mặt Hoa Kỳ va ?ồng Minh hay chỉ một minh chiến đấu đơn độc, QLVNCH vẫn luôn lam chủ chiến trường, tại hầu hết các mặt trận nhỏ lớn, quan trọng như Tết Mậu Thân, Mua he đỏ lửa 1972 tại An Lộc, Kontum, Binh ?ịnh, Quảng Trị.

    Ngay những ngay tháng 4-1875, trong giờ thứ 25, du phải chống trả với thu trong giặc ngoai, QLVNCH vẫn chiến đấu anh dũng tại các mặt trận Khánh Dương, Tháp Cham, Phan Thiết, Phước Long, Tây Ninh-Hậu Nghĩa va nhất la Xuân Lộc, đa lam quân xâm lăng Bắc Việt, phải khiếp sợ la lang, đổ thừa Mỹ trở lại, giội bom nguyen tử. Ngay 30-4-1975, khi các quân đoan Bắc Việt, từ tám hướng siết chặt vong vây Thanh ?ô, nhưng ben trong vẫn con đủ an toan, để Hoa Kỳ dung trực thăng bốc người ra chiến hạm. Tren sông Sai Gon cũng như khắp bầu trời, cũng chính la những sinh lộ, bởi vi khắp nơi con có sự chiến đấu của SD3,5,7,9,18,21,22,25 BB, của Lữ ?oan 3 Xung Kích, SĐ Du, Biệt kích Du-Lôi Hổ, TQLC, Thiết Giáp,BDQ, DQP+NQ,XDNT,CSDC va ngay cả những Thiếu Sinh Quân, Nhân Dân Tự Vệ. Tất cả đa ở lại chiến đấu tới cung, va đa lam vỡ mặt Ha Nội, khi những chiếc T54,PT76 vừa tới Nga Tư Bảy Hiền, đa bị các chiến sĩ Lien ?oan 81 BCND va Lữ ?oan 4 Nhảy Du bắn hạ. Lịch sử VN cận đại, la những trang huyết lệ, được người lính trận viết tại chiến hao, hố bom va ngay tren cơ thể của minh, chứ không phải qua những tai liệu, nói la của Tây Tau, Nga Mỹ, vừa được giải mả. Chính sử gia Tư Ma Thien, nhờ bản thân bị đoạn trường , ma viết nen một thien sử kư tới nay, vẫn được thế nhân ngưỡng phục..

    ** CUỘC CHIẾN KHÔNG CẦN THẮNG **

    Tuy văn khố Hoa Kỳ nói là đa cho giải mật nhiều tai liệu lịch sử có lien quan tới cuộc chiến vừa qua nhưng những điều vừa bật mí, thật sự chưa được đưa hết ra ánh sáng. Do muốn tim hiểu sự thật về một cuộc chiến, đa lam cho Hoa Kỳ phải sa lầy va mang rất nhiều tai tiếng, nen suốt mấy chục năm qua, nhiều nhân vật , từ những quân nhân thuần tuư đa tham dự cuộc chiến như ?ô ?ốc Grant Sharp, ?ại Tướng William C. Westmoreland.. hay trong nganh ngoại giao như GS Tiến Sĩ Stephen Young, Robert Sharphen, William Colby.. đều thắc mắc về sự bại trận của Hoa Kỳ, ma theo họ , chẳng bao giờ có thể xảy ra, trong một cuộc chiến vô cung chenh lệch, giữa hai đối thủ, cho du phía sau lưng VC có Lien Xô, Trung Cộng va khối ?ông Âu chống lưng giúp đỡ tận lực.

    đúng như đô Đốc Grant Sharp , cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Binh Dương, viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Strategy For Defeat ‘ hay la ‘ Cuộc Chiến Không Cần Thắng ‘, trong đó vị Cựu Tư Lịnh , cũng la một tướng lanh từng tham dự tại chiến trường Nam VN nhiều năm, nói rằng Ông va thuộc cấp dưới quyền, bị các nha lanh đạo của nước Mỹ, tại Hoa Thạnh ?ốn, cột chặt một tay, khi họ chiến đấu tại VN. Thảm kịch nay mai tới năm 1985, sau khi chính phủ Hoa Kỳ ban hanh một số luật mới, cho phép giảm độ mật , thi Bộ Quốc Phong mới cho in phổ biến hai mươi sáu trang , tóm tắt luật chiến đấu của QL.Hoa Kỳ tại ?ại Han va VN, gọi la ‘ Rules of Engagement ‘.

    Đọc Congressional Record, làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt va thương xót cho những đồng đôi, đồng bao, suốt hai mươi năm qua, vi chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, ma chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom va ban tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được giội bom vao xe của VC khi chúng ở cách đường mon Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không giội bom các phi cơ VC đậu yen tại phi trường. Cuối cung , nghiem cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lao va Kampuchia..

    Chính phủ Hoa thịnh Đốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, đồng Minh, VNCH không được thẳng tay tieu diệt kẻ thu, ma con báo trước những bí mật quân sự, quốc phong cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, tren đường mon HCM, hanh quân Lam Sơn 719.. đó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding, thời TT.Johnson, trả lời thắc mắc của hang ngan gia đinh tử sĩ Hoa Kỳ :’ Chúng ta đang tham gia vao một cuộc chiến giới hạn, với nhữn mục tieu hạn chế. Nói chung đây la một cuộc chiến vi chính trị, nen không thể tieu diệt VC được ‘.

    Do sự phản ứng cang lúc cang đông của người Mỹ, trước cái gọi la ‘ đánh không cần thắng ‘, nen dân chúng đa xuống đường, đa đảo ma báo chí thời đó, gọi la do phản chiến giựt dây. Thật sự , người Mỹ đa quá chán ngấy cái tro đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó la Nixon, nen đa giận dữ đoi Hoa Thịnh ?ốn ‘ Hay cút khỏi VN ngay, hay chấm dứt cái tro chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích nay .’

    Tóm lại qua cuộc chiến VN,do đầu óc con buôn, người Mỹ đa đánh mất tất cả mọi ư thức về trách nhiệm va danh dự, lam tieu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55.000 chiến sĩ bị chết oan va hơn 300.000 quân nhân các cấp bị thương tật.

    Trong khi đó, người lính VNCGH, du la một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo cáo cáo của MACV , Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thi đối với các quân nhân VNCH, CHỈ CÓ CHẾT, TAN PHẾ HAY ?AO NGỦ, mới mong giải thoát được cái thân phận bọt beo của người Lính chiến trong thời loạn lạc. Ngoai ra, tai liệu cũng có nói tới việc lính Nam VN đao ngủ, nhưng không phải họ đầu hang VC, ma trở về que nha, gia nhập lực lượng DPQ+NQ, để được chiến đấu ben cạnh vợ con, gia đinh. Sau rốt, tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đa có 231.508 tử sĩ va 95.371 phế binh. Thương tủi nhất la những ngay tháng sau đó, cho tới khi Nam VN sụp đổ vao ngay 30-4-1975, đa có hằng vạn dân lính vô tội, đa gục nga tren chiến trường va khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đa bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vi đồng đội không thể lam gi hơn giữa chốn loạn quân. Chính Nhảy Du từ ngay thanh lập, cho tới khi tan hang, cũng đa phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội, tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4-1975, như Phạm Huấn đa viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đem, mịt mu lửa đạn..

    ** BÁO CHÍ TÂY PHƯƠNG BẺ CONG NGÒI BÚT, GÓP PHẦN LÀM SỤP ĐỔ VNCH **

    Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lư của Nam VN không phải tại chiến trường, ma ngay ở các thanh phố lớn Ba Le, Hoa Thịnh ?ón, New York, Luân Đôn, La Ma, Huế-?a Nẳng va Sai Gon, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc, đa phẫn nộ và bay tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoai nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ va nghề nghiệp, để bẻ cong ngoi bút, xuyen tạc sự thật, phỉ báng đồng bao va quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. ?ề tai quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ va Tây Phương viết lách, đem len truyền thanh truyền hinh, đó la người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nen bị mất tự do va người Mỹ khinh miệt.

    Hai câu hỏi tren cách đây vai chục năm được bịa chuyện la có, nhưng bây giờ sự thật đa xác nhận ‘ KHÔNG ‘.Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục., vẫn không thiếu những binh sĩ đao ngủ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng va chính cưu TT. Bill Clinton, vi hen nhát nen đa trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới được thanh lập , được coi la một quân đội ngheo nhất tren thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.

    Thế nhưng những người lính ngheo đó, ma lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ.. vậy ma họ vẫn một đời đem máu đao xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ mau cờ, sắc áo va từng sinh mạng cũng như tất đất của que hương. QLVNCH la sinh mạng của muôn người, nen khi thiếu vắng hay không con họ, mạng người Nam VN lá rụng, đa gục nga tại Mậu Thân Huế-Sai Gon, tren các đại lộ kinh hoang quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mua he đổ máu va sau rốt la cung nhau chết tập thể vao ngay 30-4-1975. Như sử gia Edward S.Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Fifteen Decisive Battle Of The World ‘ năm 1851 ‘ Tầm quan trọng của một cuộc chiến, la những gi ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bai ‘.Những gi đa xảy ra tại Nam VN, sau 30 năm bị cong sản cưởng chiếm, đa đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, ma lần nữa Robert S.McNamara, cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đa giải thích một chiều, trong hồi kư của minh ‘ In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN ‘.

    Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mu quáng va tin tưởng vao truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cung, nhin cảnh đời bi thảm của phận lính bọt beo Nam VN tren man ảnh, tờ The New York Times Service, đa thay thế người nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ la hen nhát , bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn cộng của VC. Họ cũng neu đích danh Henry Kissinger la kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ kư vao bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tan nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhin miền nam sụp đổ.

    Không có gì tồn tại với thời gian, trừ chân lư. Vi vậy những câu chuyện hề của Henry Winston, chủ tịch đảng cọng sản Mỹ, đem diễn tại Ha Nội vao tháng 5-1975, hay lời tuyen bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bu nhin của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sai Gon thất thủ : ‘ cám ơn báo chí va kư giả Tây Phương, đa góp phần lớn cho chiến thắng của Ha Nội, trong số nay đáng kể la người Mỹ ‘.

    Đây là tất cả sự thật , vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ la Harry H.Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm ‘ Heroic Allies ‘ nói len vinh quang va sự hanh diện của một quân lực , từ lâu đa bị bọn trí thức vô liem sỉ , tước đoạt một cách hen hạ, bất nhơn va vô nhân đạo. Sự tuyen truyền lố lăng va cuồng ngạo của Ha Nôi cung những mặt mo bưng bợ, lam cho thien hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ con trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gi để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thanh, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín va một số quạ đen, diều hâu , bu tới rỉa rói như lúc chợ con đông khứa.

    Trong tai liệu đặc biệt ‘ How Media Bias Distorts Our View of the World ‘ của kư giả Allan Brownnfiels, nói rằng vi hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mu quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch ?ông va Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi lọ Tưởng Giới Thạch va chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tinh nhưng đa lam cho cọng sản tại hai nước nay chiến thắng mau lẹ. Bai học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN.

    Lần nay do chính những thanh phần được ưu tien trạng trọng trong xa hội lúc đó, la những công tử tiểu thu đai cát của giới địa chủ, địa hao, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tien theo thực dân Pháp bốc lột đồng bao, nen có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thanh luật sư, bác sỷ, giáo sư, những thanh phần ma Hồ Chí Minh va đảng VC ở miền Bắc, chém giết va khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được lam chủ nửa miền đất nước vao năm 1954 . Nhờ cái mặt nạ trí thức va sự tự do quá trớn của Nam VN, những thanh phần ăn chén đá bát nay, luôn bẻ cong ngoi bút, lam cho thế giới tự do lầm lạc , nghĩ rằng giặc Cộng tại Nam VN la những người binh thường, yeu nước, nen nỗi dậy chống lại sự độc tai tham nhũng của chế độ.

    Tóm lại nhờ những trí thức nay, ma VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tau Cộng, Lien Xô, Cu Ba, ?ông Âu.. trong bộ đội Ha Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ va cọng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác tren, nhờ tuyen truyền ngay ở miền Nam va các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cọng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ư nghĩa chính thống, lam cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở ?ông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc va ngay trong nước.

    Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vao Nam VN, cũng la thời kỳ lửa máu dồn dập ở hậu phương . ?ây cũng la thời kỳ ăn nen lam ra, của những thông tín vien, kư giả ngoại quốc, qua những bai tường thuật , có kem hinh ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, ma chỉ để tuyen truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội, đang trực diện với cọng sản Bắc Việt, tren chiến trường Nam VN. Có thể nói bai phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín vien đai CBS ten Morley Safer, viết về cuộc hanh quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một lang xôi đậu, đa trở thanh những mẫu thông tin ‘ ăn khách’ , theo đơn đặt hang của thị trường Mỹ va Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí phản tuyen truyền, Tết Mậu Thân 1968, VC chết thảm khắp nơi, đa thanh chiến thắng, chiếm được ngay cả Toa ?ại Sứ Mỹ ở Sai Gon. Tan nhẫn va đáng khinh tởm nhất, la báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đa không hề một chữ tường thuật những hanh vi khủng bố, giết người tan bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 va những ngay di tản máu lửa hận hờn

    Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa riu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trao phản chiến tại Mỹ va tây phương, được lien kết bởi trí thức, sách báo va tuyen truyền. ?ó cũng la lư do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hoa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vi mang thân phận nhược tiểu

    2-THƯƠNG QUÁ NGƯỜI PHE BINH VN :

    Tất cả hinh như chỉ còn có kỹ niệm, sau cuộc đổi đời. La định mệnh ma chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu, theo vong đời nổi trôi của dong sông lịch sử, du vô lư, du hờn căm, du bất công thương hận.

    Mất nước nha tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, ra ngũ tan hang đầu sông cuối bể, tha phương thi dần chết trong men đời cay đắng, con tu ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đả đi hết rồi, chỉ con ở đây la những thương phế binh xa củ, những hồn ma cô quạnh , sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận :

    ‘ Di tản khó, sâu dòi lúc nhúc
    trong vết thương người bạn nín ren
    người chết mấy ngay không lấy xác
    thây sinh mặt nát, lạch mương tanh.. ’ ’
    ( Tô Thuỳ Yên)

    Ta thán phục, ta hanh diện biết bao, khi đọc được những trang sử củ. Sẽ vui cười hớn hở cung với tiền nhân qua những lần binh Chiem, phá Bắc, đuổi giặc Mông tren sông Bạch ?ằng, đốt tau Pháp tại Vam Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hanh sử thế nao ma muôn người như một, khiến cho người trong nước, gia trẻ lớn bé, đều nguyện một long giết giặc cứu nước tại Hội Nghi Dien Hồng. Sau nay mới vở lẽ, thi ra đó la tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẽ sỉ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó la đức tính cao quí của thanh nien-sĩ phu, du họ chỉ la những người binh dân ít học.

    ‘ Tôi không la tôi nửa,
    từ khi được xuất ngủ
    có quạ đen đậu tren đấu
    có bao nhieu đợi chờ đau khổ.. ’ ’

    Thanh niên VN thời nao cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm lam trai tren hết, nen chúng ta ngay nay mới con có đất nước, để ma vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có lam lính mới hiểu phận beo của lính, có la thương phế binh, sau khi được xuât ngủ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tan tật, mất tất cả, ngoai người mẹ gia, từ que xa, đang đợi con trở về. The thiết quá cũng như đau đớn tột cung, kiếp lính chiều tan la thế. Sự thật la vậy , có khi con đau đớn trăm chiều. Ai đa tung thấy chưa, cảnh vợ lính hay người yeu , chỉ một lần vao thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoai những giọt lệ cá sấu, vô tinh con vương vai đó đây. Ai có một lần ngược xuôi tren các nẻo đường thien lư, tinh cờ hội ngộ những chang trai tan tật con rất trẻ, những người mu, que, mặt may in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mo ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ la lính chiến của một thời oanh liệt, la thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, ma vi đời, vi người gánh chịu :

    Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Cuộc, trược thuộc Bộ Quốc Phong. ?ầu tien Nha nay la một Bộ, được thanh lập vao tháng 8-1952, có một An Dưỡng ?ường danh cho Thương Phế Binh. Sau đó, bộ nay bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề lien hệ tới cưu chiến binh, đều giao cho Bộ Y Tế, với một Nha rieng gọi la Nha Tổng Thư Kư, Cưu Chiến Sĩ va Phế Binh.

    Thời VNCH, qua một ?ại Hội Cựu Chiến Sĩ toan quốc tại Toa đô Sảnh Sai Gon. Ngay 29-5-1955, Nha Tổng Giám ?ốc CCB va NNCC đưọc thanh lập, trụ sở ở đường ?oan Thị ?iểm. Sau Tết Mậu Thân 1968, Nha được cải thanh Bộ, gồm các Nha Sở Trung Ương va các Ty trực thuộc .

    Đầu năm 1969, một biến cố lớn đa xảy ra tai thị xa Nha Trang, tỉnh Khánh Hoa. ?ó la vụ Y Sĩ ?ại Uư Ha Thúc Nhơn, trưởng trại 12 Tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Vi dám tố cáo Chỉ Huy Trưởng QYV la Thiếu Tá Phung Quóc Anh, với sĩ quan hanh chánh ?ặng Mai,toa rập tham nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của thương bệnh binh, cũng như mờ ám trong các vụ cứu xét , phân loại trợ cấp, miễn dịch. ?ại Uư Nhơn đa cầm đầu các bệnh binh nổi loạn, nen bị Tỉnh trưởng Khánh Hoa lúc đó la ?ại Tá Lư bá Phẩm, nguyen Trung ?oan Trưởng Trung ?oan 43 Biệt Lập, ra lệnh cho DPQ bắn trọng thương va đa chết khi chở vao cấp cứu tại Cam Ranh.

    Ngay đưa tang người xấu số, cũng la thời điểm Phế Binh Khánh Hoa đứng dậy đoi quyền sống. Taị Sai Gon, Trung Úy mu BDQ.?ổ văn Lai, đang cung một số phế binh nặng, đang dưỡng thương tại Trung Tâm Chỉnh Hinh, đường Ba Huyện Thanh Quan, cũng biểu tinh, cắm dui khắp ?ô Thanh, đoi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắc đỏ, do sự hiện diện của Mỹ va ?ồng Minh, vung đô la xanh đỏ qua cửa sổ như khói thuốc. Phong trao tranh đấu bung nổ khắp nước, lam cho chính quyền trung ướng cũng như tại các tỉnh bối rối, vi không thể dung bạo lực để chen ép hay khóa miệng, bởi phế binh cũng la lính, nen ai nỡ xuống tay .

    Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra đời tại Sai Gon, bầu PB Nguyễn ?inh lam Hội Trưởng, PB Nguyễn Bính Thịnh, tức nha văn An Khe, lam phó va PB Đinh Trung Thu, tổng thư kư. Ngoai ra con có một Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hang thanh lập.

    Thời đệ Nhị Cộng Hoa (1967-1975), nếu TT Thiệu có chính sách ‘ Người cầy có ruộng ‘, thi Phó TT. Nguyễn Cao Kỳ, cũng chủ trương ‘ Phế Binh có nha’. Nói chung bắt đầu năm 1969 trở về sau, quyền lợi của Phế binh, cô nhi quả phụ cang ngay cang được cải tổ, chăm sóc va dễ thở hơn trước. Nạn chen ép, dim sổ trợ cấp để lam tiền cũng chấm dứt, kể từ năm 1972, chính phủ cho thanh lập Ty Cựu Chiến Binh tai các Tỉnh, có quyền hạn rất rộng rải, ngoại trừ, sổ trợ cấp đầu tien được kư cấp từ Bộ. Cũng từ đó, nguời cô nhi, quả phụ va thương phế VNCH, được sống an nhan hơn buổi trước, với các quyền lợi thiết thực, tương xứng, từ trợ cấp, xin việc lam, y tế, cho tới các kỳ thi, tất cả đều ưu tien cho họ.

    Rồi thi hằng loại Làng Phế binh, lần lượt ra đời tại quận cũng như thị xa. Rieng những phế binh đa có nha, không muốn vao Lang, dược trợ cấp một ngân khoản 60.000 đồng. Tất cả các lang tren, đều bị VC cướp giựt sau ngay 30-4-1975.

    Lam người binh thường , sống trong thời loạn, đa phải khốn khổ vi miếng cơm manh áo, huống chi phận lính ngheo, lanh đồng lương chết đói, vậy ma con bị trí thức nguyền rủa, la lính đánh thue cho Mỹ..

    ‘ Giọt mưa tren lá, nước mắt mặn ma thiếu nữ mừng vi tan chiến tranh chồng về mẹ lần mo, ra trước ao, nắm áo ngưởi xưa, ngỡ trong giấc mơ tiếc rằng ta, đôi mắt đa loa vi quá đợi chờ.. ’ ’

    (Phạm Duy)

    Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn con khốc liệt, nhưng người xưa nay đa thanh tan phế, vô dụng, le lết đời tan xuân héo, lần mo trở về lang xưa,với những kẻ thân yeu, mong chút tinh thân đum bọc.

    Ai có cảm thông chăng người lính mu trẻ tuổi vi đạn B40, lần mo tren chiếc xe lăn, quanh bến pha, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống ? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, le lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngay. Va con nửa, con trăm ngan thảm kịch của tuổi thanh nien thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vang khe, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, lam nông, lết le tren ruộng tren sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận beo của người phế binh la thế đó, nen phải chiếm đất cắm dui, cũng la chuyện binh thường

    Hai mươi năm chinh chiến, du có gọi bằng một thứ danh từ gi chăng nửa, thi xác của nam nữ thanh nien hai miền đất nước, cũng đa chất cao như núi, máu chảy thanh sông. Rốt cục chỉ có cái vỏ độc lập, hoa binh, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói va đời sống cang bị tu ham tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả cọng sản, lẫn tư bản va đảng cầm quyền.

    Nhưng the thiết nhất vẫn la những người phế binh VNCH. Ngay xưa lúc chế độ củ con, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi.. thế nhưng họ vẫn sống beo bọt, cực ngheo. 30-4-1975, VC vao tóm thu tất cả, them vao đó la chuyện trả thu. Lính sống thi đi tu, lính chết thi cầy mộ, con lính que đui tan phế, thi bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, lang phế binh va ngay cả ngôi nha của minh.

    19-4-1975 tại Quân Y Viện đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết.

    30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hoa-Sai Gon.

    Thảm họa gi đa đến với các thương bệnh binh con đang điều trị, khi giặc về ? Có ai cầm được nưóc mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoan thương binh, nối gót đắt diu ra cổng. Người sáng giắt kẻ mu, kẻ bị thương nhẹ cong người trọng bệnh. Khắp lối ra vao, máu me vương vai với nước mắt đoanh trong của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bang, chẳng đồng đội va cũng hết hậu phương. Một số chết vi vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tan phế vĩnh viễn, vi vết thương không được tiếp tục điều trị. ?ời the thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, con có những cô gái bán phấn buôn hương ở Nga ba Chú Iá, Go Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về que sống tiếp kiếp lính beo.

    Cuộc đổi đời nay đa xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi năm rồi ta con sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa tren đất người, đa la điều đại phúc. Trong lúc đó nơi que nha ngan trung xa cách, những người phế binh năm nao, không biết nay ai con ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, du họ có sống hay đa chết, thi hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gi. Bởi tất cả đâu có khác gi bóng ma trơi , những mảng đời ngheo hen tăm tối. ?âu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẳm hiu trong vong đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy củ, hiện đổi đời giau sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại. Xin hay thương lấy ho, hay cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tu nghiệt ngả. Phế binh cũng la một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại. Hay rớt một chút ân thừa cho những thây người con sống sót trong bể hận trầm luân.

    Hay cho họ một chút tinh thương trong cơn hấp hối.Hay danh cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nha VN to lớn,đa được các cộng đồng tị nạn hoan thanh tren khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi va một vong hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoan, ma chắc chắn phải có trong thời gian gần.

    Ngay xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn va băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoai quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tan, để phu phụ trung phung, kết lại mối duyen xưa :

    ‘ Xin vi chang xếp bao cởi giáp
    xin vi chang giũ lớp phong sương
    vi chang tay chuốc chén vang
    vi chang điểm phấn, đeo hương nao nung
    lien ẩm, đối ẩm, đoi phen cung chang lại kết, mối duyên đến gia .. ’ ’
    (Chinh Phụ Ngâm)

    Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vi khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vao tu. Lính chết đa rục tử thi vẫn bị dầy mồ, lính bị thương tan phế bị xua đuổi ra khỏi cuôc sống. Thử hỏi tren thế gian nay, có kiếp người nao, đáng thương hơn người lính VNCH ?

    ‘ Dâu binh lửa nước non như củ,
    kẻ hanh nhân qua đó chạnh thương’
    (Chinh Phụ Ngâm)

    Cuộc đời thanh nien thời loạn ly, rốt cục chỉ con lại nổi buồn thien cổ, xin hay nâng ly rượu sầu len môi ma nhớ .’-

    Xóm Cồn

    MƯỜNG GIANG





Next
Web Page Traffic Counter
Main office: 3400 S. Jones Blvd. Suite A5 - Las Vegas , NV. 89146. - Tel: (702) 252 6999   Copyright ©2004 songtrendatmy.com - contact us!